Trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN (AFF) năm 2026, ngày 10/6, đã diễn ra ba phiên thảo luận về hợp tác Hoa Kỳ - ASEAN; tìm kiếm giải pháp nhằm bảo đảm an ninh năng lượng, thúc đẩy chuyển đổi xanh tại khu vực và xác định những mô hình phát triển mới trong bối cảnh chuyển dịch toàn cầu.
Kỳ vọng vào tương lai hợp tác của Mỹ và ASEAN
Sáng 10/6, trong khuôn khổ ngày thứ 2 của Diễn đàn Tương lai ASEAN (AFF) 2026, TS Nguyễn Hùng Sơn, Giám đốc Học viện Ngoại giao đã chủ trì phiên thảo luận về hợp tác Mỹ-ASEAN với Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Christopher Landau.
Phát biểu tại phiên thảo luận, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Christopher Landau cho biết đây là lần đầu ông đến Việt Nam và bày tỏ ấn tượng trước sự năng động của đất nước cũng như sự nồng hậu của người dân Hà Nội.
Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ cho rằng, hành trình từ cựu thù trở thành Đối tác Chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Mỹ mang ý nghĩa đặc biệt. Ông cho rằng, cuộc chiến trong quá khứ đã tác động sâu sắc tới nước Mỹ, vì vậy việc hai nước có thể vượt qua khác biệt để xây dựng quan hệ hợp tác sâu rộng hiện nay là “thực sự đáng kinh ngạc”, đồng thời là minh chứng cho sức mạnh của đối thoại và hòa giải.
Ông Christopher Landau nhấn mạnh quan hệ song phương đang phát triển tích cực trên nhiều lĩnh vực như ngoại giao, quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật, hợp tác kinh tế và giao lưu nhân dân. Ông khẳng định Washington ủng hộ một Việt Nam “vững mạnh, độc lập và thịnh vượng”, đồng thời cho biết đây không chỉ là tuyên bố mang tính biểu tượng mà còn là nguyên tắc định hướng trong chính sách hợp tác của Mỹ với Việt Nam.
Thứ trưởng Ngoại giao Landau cũng đánh giá cao vai trò ngày càng lớn của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế. Ông khẳng định, việc Việt Nam tham gia các cơ chế quốc tế về hòa bình và ổn định, cũng như sẵn sàng đóng góp vào các nỗ lực gìn giữ hòa bình, thể hiện vai trò lãnh đạo mang tính xây dựng và có trách nhiệm của Hà Nội. Việt Nam không chỉ là một nhân tố quan trọng ở khu vực, mà còn là một đối tác toàn cầu.
Thứ trưởng Christopher Landau cho biết, việc tham dự diễn đàn nhằm tái khẳng định tầm quan trọng mà Tổng thống Donald Trump, Ngoại trưởng Marco Rubio cùng chính quyền Mỹ dành cho Đông Nam Á và ASEAN.
Theo ông, Đông Nam Á sẽ đóng góp tỷ trọng lớn vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong thế hệ tiếp theo và Washington muốn trở thành một phần trong “câu chuyện phát triển” của khu vực. Ông nhấn mạnh, cả Tổng thống Trump và Ngoại trưởng Rubio đều đã thăm khu vực ngay trong năm đầu nhiệm kỳ, phản ánh cam kết của Mỹ với ASEAN trên cả phương diện song phương và đa phương.
Ông Landau cho biết, việc thăm Việt Nam và hai quốc gia Singapore và Indonesia trong tổng số hơn 30 nước ông đã thăm trong 15 tháng qua cho thấy Mỹ đang đẩy mạnh đa dạng hóa quan hệ đối ngoại và ngày càng coi trọng khu vực Đông Nam Á.
ASEAN đang trên đà trở thành nền kinh tế lớn thứ tư thế giới và đầu tư của Mỹ vào ASEAN hiện vượt tổng đầu tư của Mỹ vào Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Hong Kong (Trung Quốc) và Đài Loan (Trung Quốc) cộng lại. Nói về điều này, ông Landau cho biết quan hệ đối tác với ASEAN vốn dĩ "là điều hợp lý" đối với cả hai bên. Hiện hơn 6.000 công ty Mỹ đang hoạt động trên khắp khu vực, thương mại và đầu tư song phương hỗ trợ khoảng 625.000 việc làm tại Mỹ, trải rộng trên toàn bộ 50 bang.
Về thương mại, Mỹ đã đạt được các thỏa thuận đối ứng với Malaysia, Indonesia và Campuchia. Theo ông Landau, khi Mỹ điều chỉnh lại quan hệ thương mại toàn cầu và gia tăng xuất khẩu, ASEAN sẽ tiếp tục là thị trường quan trọng không chỉ đối với hàng hóa Mỹ mà còn với dòng đầu tư hai chiều. Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ cũng nhấn mạnh quan hệ thương mại cần bảo đảm tính cân bằng, đồng thời cần sớm nhận diện và xử lý những điểm gây mất cân đối ngay từ đầu. "Cũng như mọi mối quan hệ khác, nếu mất cân bằng kéo dài thì quan hệ thương mại sẽ không bền vững", ông nói.
Nhấn mạnh vai trò của an ninh năng lượng đối với phát triển kinh tế, cảnh báo việc phụ thuộc quá lớn vào các tuyến vận chuyển đi qua những khu vực địa chính trị phức tạp tiềm ẩn rủi ro nghiêm trọng, ông Landau cho biết, Mỹ xác định là "cường quốc năng lượng" và sẵn sàng trở thành đối tác quan trọng của ASEAN trong các lĩnh vực khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG), khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) và điện hạt nhân.
Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ cho biết, Washington hiện đang sử dụng Dự trữ dầu mỏ chiến lược, thúc đẩy xuất khẩu năng lượng nhanh nhất có thể, đồng thời đã vận chuyển than đá và khí hóa lỏng tới Philippines nhằm hỗ trợ bảo đảm nguồn cung. Mỹ cũng mong muốn phối hợp với ASEAN mở rộng lưới điện khu vực, một sáng kiến cần được tiếp cận ở quy mô toàn khối thay vì từng quốc gia riêng lẻ.
Về khoáng sản chiến lược, Mỹ đang đặt nền tảng cho hợp tác thực chất thông qua chia sẻ chuyên môn, xác định khoảng trống và thúc đẩy đầu tư nhằm đa dạng hóa và tăng khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng.
Về công nghệ số, ông Landau khẳng định, với vai trò dẫn đầu toàn bộ hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo (AI) từ chất bán dẫn, phần mềm tới ứng dụng, Mỹ muốn là đối tác được ASEAN lựa chọn. Sau Hội nghị Bộ trưởng AI Mỹ-ASEAN đầu tiên diễn ra hai tuần trước, Washington mong muốn các quốc gia ASEAN có thể tiếp cận những công nghệ AI tiên tiến nhất và thúc đẩy hợp tác sâu rộng hơn trong lĩnh vực này, với tinh thần lạc quan và ưu tiên thúc đẩy đổi mới thay vì cản trở.ASEAN sớm hoàn tất Khuôn khổ kinh tế số tiêu chuẩn cao, tham vọng và dựa trên các thông lệ quốc tế tốt nhất. Bên cạnh đó, ông khuyến khích các nước ASEAN hợp tác với các nhà cung cấp đáng tin cậy trong xây dựng hạ tầng số, nhấn mạnh những lựa chọn về đối tác hạ tầng hôm nay sẽ định hình an ninh và thịnh vượng của khu vực trong nhiều thập kỷ tới.
Nói về việc thế nào để Mỹ duy trì sự gắn bó lâu dài với ASEAN bất chấp những thay đổi chính trị nội bộ, ông Landau thẳng thắn thừa nhận, hệ thống bầu cử bốn năm một lần khiến việc duy trì một chính sách cố định trong thời gian dài không phải điều dễ dàng. Theo ông, hợp tác với Đông Nam Á là một trong số ít vấn đề nhận được đồng thuận xuyên suốt giữa các chính quyền Mỹ, minh chứng là việc nâng cấp quan hệ Mỹ-ASEAN lên Đối tác Chiến lược toàn diện dưới chính quyền tiền nhiệm vẫn được kế thừa nguyên vẹn.
Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi năng lượng bền vững
Sáng cùng ngày, đã diễn ra phiên thảo luận chuyên đề "An ninh năng lượng trong bối cảnh mới" với sự góp mặt của nhiều lãnh đạo, chuyên gia uy tín trong nước và quốc tế. Các đại biểu đã tập trung phân tích những thách thức hiện tại và đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo nguồn cung, đồng thời thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi năng lượng bền vững tại khu vực.
Phát biểu tại phiên thảo luận,Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hoàng Long cho rằng, khái niệm an ninh năng lượng ngày nay cần được nhìn nhận theo cách toàn diện hơn trong bối cảnh môi trường quốc tế biến động nhanh chóng. Ông nhấn mạnh, căng thẳng địa chính trị, xung đột khu vực, gián đoạn các tuyến hàng hải trọng yếu, tác động của biến đổi khí hậu và quá trình chuyển dịch năng lượng toàn cầu đang tạo ra sức ép chưa từng có đối với các hệ thống năng lượng quốc gia và khu vực.
Đối với ASEAN, một trong những trung tâm tăng trưởng năng động nhất thế giới, việc bảo đảm nguồn năng lượng ổn định, đáng tin cậy và có giá cả hợp lý không chỉ liên quan đến tăng trưởng kinh tế mà còn tác động trực tiếp đến sản xuất, chuỗi cung ứng, an ninh lương thực, hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như đời sống người dân.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Long nhấn mạnh, ASEAN cần duy trì sự cân bằng giữa ba mục tiêu then chốt là bảo đảm an ninh năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và duy trì khả năng chi trả cho người dân, doanh nghiệp. Khu vực cần tiếp tục phát huy hiệu quả các cơ chế hợp tác hiện có như Kế hoạch hành động ASEAN về hợp tác năng lượng (APAEC), Thỏa thuận An ninh dầu mỏ ASEAN (APSA), đồng thời đẩy nhanh kết nối hạ tầng thông qua Lưới điện ASEAN, mở rộng thương mại điện xuyên biên giới và tăng cường liên kết trong khuôn khổ Đường ống dẫn khí xuyên ASEAN.
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương, ASEAN cũng cần tập trung vào năm định hướng ưu tiên gồm nâng cao khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng năng lượng, đa dạng hóa nguồn cung và tuyến vận chuyển, thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng công bằng, đẩy mạnh sử dụng năng lượng hiệu quả và huy động mạnh mẽ hơn các nguồn lực tài chính, công nghệ, tri thức từ các đối tác quốc tế cho quá trình chuyển đổi xanh của khu vực.
TS Nguyễn Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam nhận định Việt Nam đang đứng trước bài toán cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, chuyển đổi xanh và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong bối cảnh thế giới nhiều biến động.
Theo ông, dù năng lượng tái tạo đã có bước phát triển đáng kể, cơ cấu năng lượng của Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào than đá và dầu mỏ, trong khi mức độ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu ngày càng gia tăng. Chỉ riêng năm 2024, Việt Nam đã nhập khẩu gần 26 triệu tấn dầu quy đổi, khiến nền kinh tế dễ bị tác động bởi các cú sốc từ thị trường và chuỗi cung ứng toàn cầu.
Để giảm thiểu rủi ro này, Việt Nam đang triển khai Quy hoạch điện VIII (PDP8) với nhu cầu đầu tư khoảng 136 tỷ USD đến năm 2030, tập trung giảm dần điện than, phát triển điện gió ngoài khơi, năng lượng tái tạo và các hệ thống lưu trữ năng lượng. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi cũng đặt ra những áp lực lớn về tài chính và bảo đảm nguồn cung ổn định cho nền kinh tế.
Theo TS Nguyễn Anh Tuấn, Việt Nam không lựa chọn cách chuyển đổi đột ngột mà theo đuổi lộ trình dựa trên ba trụ cột gồm tối ưu hóa nguồn lực trong nước, bảo đảm an ninh vật chất của hệ thống năng lượng và duy trì nguồn điện nền ổn định. Điều này phản ánh sự chuyển dịch từ tư duy “đủ điện” sang mô hình “an ninh năng lượng toàn diện”, trong đó các mục tiêu kinh tế, môi trường và an ninh quốc gia được cân đối đồng thời.
Ông khẳng định Việt Nam cam kết theo đuổi sự cân bằng đó, nhưng để hiện thực hóa mục tiêu an ninh năng lượng sẽ cần nguồn vốn rất lớn, sự kiên trì trong dài hạn và đặc biệt là sự hợp tác quốc tế, “bởi đây không phải là nhiệm vụ mà Việt Nam có thể thực hiện một mình”.
Tại phiên thảo luận, TS Nguyễn Anh Tuấn cùng bà Christiana Hageneder, Giám đốc Chương trình Hỗ trợ Năng lượng của Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) và TS Venkatachalam Anbumozhi, Nghiên cứu viên cấp cao của Viện Nghiên cứu Kinh tế ASEAN - Đông Á (ERIA) đề xuất các giải pháp cốt lõi: kết nối mạng lưới điện chung ASEAN (APG) để tạo vùng đệm năng lượng, chia sẻ các trung tâm khí tự nhiên hóa lỏng (LNG), và thúc đẩy tài chính xanh nhằm tài trợ cho các dự án phát triển bền vững.
ASEAN cần triển khai hiệu quả Kế hoạch hành động về hợp tác năng lượng đến năm 2030, hướng tới mục tiêu gia tăng sản xuất điện, củng cố tính tự cường và nâng cao hiệu suất năng lượng để không cản trở đà tăng trưởng kinh tế. Đáng chú ý, năng lượng tái tạo (như thủy điện, điện mặt trời, điện gió) hiện được đánh giá là nguồn năng lượng mang lại hiệu suất cao với chi phí hợp lý nhất, hứa hẹn tạo ra nhiều việc làm mới cho xã hội.
Tại phiên thảo luận, bà Seema Malhotra, Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao Vương quốc Anh cho rằng, ASEAN và các đối tác cần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang các hệ thống năng lượng sạch và có khả năng chống chịu tốt hơn trước các cú sốc bên ngoài.
Bà Malhotra cho biết, Anh sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm về quản lý rủi ro thị trường, đa dạng hóa nguồn cung và phát triển năng lượng tái tạo, đồng thời tiếp tục thúc đẩy các sáng kiến hợp tác như Đối tác Chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP) tại Việt Nam và Indonesia, cũng như hỗ trợ hiện thực hóa Lưới điện ASEAN.Theo nhà ngoại giao Anh, một hệ thống năng lượng kết nối, bền vững và bảo đảm lợi ích cho mọi người dân sẽ là nền tảng cho tăng trưởng dài hạn và khả năng chống chịu của khu vực trong tương lai.
Định hướng phát triển phù hợp cho ASEAN
Chiều ngày 10/6 đã diễn ra Phiên toàn thể 5 với nội dung "Những mô hình phát triển mới trong bối cảnh chuyển dịch toàn cầu". Tại sự kiện, các nhà hoạch định chính sách và chuyên gia quốc tế đã cùng thảo luận nhằm tìm ra định hướng phát triển phù hợp cho ASEAN trước những biến động sâu sắc của thế giới.
Phát biểu mở đầu phiên thảo luận, Thứ trưởng Ngoại giao Thái Lan Sarun Charoensuwan cho rằng, mô hình tăng trưởng truyền thống từng tạo nên thành công của ASEAN đang đứng trước yêu cầu phải thích ứng mạnh mẽ. Trong nhiều thập niên, tăng trưởng của khu vực được thúc đẩy bởi các nền kinh tế mở, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, lực lượng lao động cạnh tranh và định hướng xuất khẩu, qua đó đưa hàng triệu người thoát nghèo và giúp ASEAN trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Theo Thứ trưởng Ngoại giao Thái Lan, vấn đề hiện nay không phải là mô hình đó đã thất bại, mà là những điều kiện từng bảo đảm cho thành công của tăng trưởng đang thay đổi nhanh chóng khi chủ nghĩa bảo hộ gia tăng, thương mại toàn cầu có xu hướng phân mảnh, công nghệ phát triển với tốc độ cao, rủi ro khí hậu ngày càng lớn, trong khi nhiều quốc gia ASEAN phải đối mặt với già hóa dân số, tăng trưởng năng suất chậm và nguy cơ mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình.
Ông Sarun Charoensuwan cho rằng, ASEAN cần tập trung vào ba ưu tiên chiến lược, bao gồm tăng cường khả năng chống chịu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và sẵn sàng cho tương lai, đồng thời xây dựng những hình thức hợp tác mới.
Nhà ngoại giao Thái Lan nhấn mạnh, khu vực cần duy trì môi trường thương mại và đầu tư cởi mở, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, củng cố an ninh lương thực và năng lượng, đồng thời đầu tư mạnh mẽ hơn cho hạ tầng số, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nâng cao kỹ năng số và học tập suốt đời để bảo đảm mọi người dân đều được hưởng lợi từ tiến bộ công nghệ.
Thứ trưởng Sarun Charoensuwan cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc đa dạng hóa quan hệ đối tác, tránh phụ thuộc quá mức vào bất kỳ thị trường, nguồn công nghệ hay liên kết địa chính trị đơn lẻ nào, qua đó giúp ASEAN vừa giữ vững tính cởi mở và bao trùm vốn có, vừa nâng cao năng lực thích ứng trước những biến động của môi trường phát triển toàn cầu. Nếu chuyển hóa được những định hướng này thành các kết quả cụ thể gắn với Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045, ASEAN sẽ không chỉ thích ứng với thay đổi mà còn có thể chủ động định hình tương lai theo hướng có lợi cho khu vực và người dân.
Nguyên Bộ trưởng Thương mại Indonesia Mari Pangestu cho rằng, thế giới đang chuyển đổi cấu trúc chưa từng có bởi 5 động lực lớn, trong đó có khủng hoảng năng lượng và sự trỗi dậy của công nghệ số, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI). Theo bà, ASEAN cần thay đổi chiến lược, chuyển từ thu hút FDI lắp ráp đơn giản sang thu hút các dòng vốn mang lại chuyển giao công nghệ, hướng tới ba nền tảng cốt lõi là độ phức tạp kinh tế, khả năng chống chịu và hội nhập khu vực.
Từ góc độ học thuật, GS Masahiro Kawai (Đại học Tokyo, Nhật Bản) đánh giá, ASEAN không cần một mô hình phát triển hoàn toàn mới, mà cần duy trì định hướng mở kết hợp với việc tăng cường "tự chủ chiến lược" nhằm giảm thiểu các cú sốc bên ngoài.
Cũng từ góc độ học giả, GS Lee Keun, Đại học Quốc gia Seoul (Hàn Quốc) cho rằng, sự trở lại của chính sách công nghiệp là một trong những thay đổi đáng chú ý nhất của kinh tế thế giới hiện nay.
Trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ gia tăng, cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn ngày càng gay gắt và những cú sốc như đại dịch hay đứt gãy chuỗi cung ứng bộc lộ nhiều điểm yếu của mô hình toàn cầu hóa truyền thống, các tổ chức từng ủng hộ mạnh mẽ tự do hóa như Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cũng đã nhìn nhận lại vai trò của các công cụ hỗ trợ công nghiệp. Không chỉ thuế quan, nhiều biện pháp như trợ cấp xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu hay các chính sách định hướng thị trường được xem là những công cụ hợp pháp để nuôi dưỡng các ngành công nghiệp mới, giúp các nền kinh tế đi sau vượt qua bất lợi về quy mô và tạo dựng năng lực cạnh tranh.
Từ kinh nghiệm Hàn Quốc, GS Lee Keun cho rằng, việc hình thành các doanh nghiệp lớn - “nhà vô địch quốc gia” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình công nghiệp hóa và nâng cấp chuỗi giá trị. Ông nhắc lại việc Hàn Quốc từng áp dụng mức thuế nhập khẩu rất cao đối với ô tô chở khách để tạo không gian phát triển cho Hyundai trước khi doanh nghiệp này đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Liên hệ với Việt Nam, ông Lee Keun nhận định, quá trình chuyển đổi sang xe điện của Việt Nam đang cho thấy những tín hiệu tích cực, với VinFast có nhiều điểm tương đồng với Hyundai trong giai đoạn đầu phát triển. Ông cho rằng, Việt Nam cần thúc đẩy mạnh hơn các doanh nghiệp dẫn dắt trong những lĩnh vực có lợi thế, như chế biến sâu và xây dựng thương hiệu cà phê, thay vì chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô, qua đó từng bước dịch chuyển lên những nấc thang giá trị cao hơn trong chuỗi sản xuất toàn cầu.
Chia sẻ từ góc nhìn phía Việt Nam, TS Võ Trí Thành, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), khẳng định tư duy phát triển cũng đã có những thay đổi sâu sắc trong vài thập niên qua. Nếu như những năm 1990, mục tiêu chủ yếu là tăng trưởng kinh tế, sau đó mở rộng sang giảm nghèo và phát triển bền vững, thì khoảng 15 năm trở lại đây, trọng tâm đã chuyển sang mô hình phát triển bao trùm, bền vững, có khả năng chống chịu và dựa trên đổi mới sáng tạo.
Theo nguyên Phó Viện trưởng CIEM, quá trình phát triển hiện nay thực chất là một chuỗi chuyển đổi liên tục, từ kinh tế nâu sang kinh tế xanh, từ kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn, từ kinh tế truyền thống sang kinh tế số; đồng thời đòi hỏi các quốc gia phải xây dựng những chuỗi cung ứng linh hoạt, bền bỉ và có tính chiến lược hơn trước các cú sốc bên ngoài.
Từ thực tiễn Việt Nam, TS Võ Trí Thành nhấn mạnh ba trụ cột quan trọng trong hoạch định chính sách, bao gồm ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách theo hướng thị trường và hội nhập quốc tế, qua đó không chỉ nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực mà còn mở rộng cơ hội lựa chọn và phát triển cho người dân và doanh nghiệp.
Theo ông, cải cách thể chế không nên chỉ dừng lại ở việc cắt giảm thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ, mà cần hướng tới xây dựng các thể chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm phân bổ công bằng hơn các thành quả phát triển và nâng cao năng lực quốc gia.
TS Võ Trí Thành cũng chỉ ra rằng, doanh nghiệp cần được đặt ở vị trí trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, cùng với việc đầu tư vào hạ tầng chiến lược, nâng cao năng lực công nghệ và hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp. Ở cấp độ khu vực, vị chuyên gia đề xuất ASEAN cần tiến thêm một bước trong tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, không chỉ thúc đẩy tự do hóa và thịnh vượng chung mà còn thu hẹp khoảng cách phát triển, tăng cường kết nối, đồng thời nghiên cứu hình thành một “Cộng đồng Đổi mới sáng tạo ASEAN” như một trụ cột mới cho tương lai.
Về bài toán nguồn lực, ông Srini Nagarajan, Giám đốc điều hành khu vực châu Á của British International Investment (BII) nhận định thách thức lớn nhất của khu vực là duy trì tăng trưởng kinh tế song hành cùng mục tiêu giảm phát thải. Điểm nghẽn lớn trong chuyển dịch năng lượng của nhiều quốc gia ASEAN hiện nằm ở hạ tầng lưới điện. Ông nhấn mạnh sự cần thiết của những chính sách nhất quán, dễ dự báo nhằm tạo môi trường an tâm để thu hút dòng vốn tư nhân vào các dự án xanh và hạ tầng bền vững.
>>> Mời độc giả xem thêm video từ bị trêu trọc đến sàn diễn Paris: