Di tích Thành cổ Biên Hòa trước nguy cơ đổ sập

Thành cổ Biên Hòa - Di tích lịch sử quốc gia ở tỉnh Đồng Nai đang đứng trước nguy cơ đổ sập.

Thành cổ Biên Hòa - Di tích lịch sử quốc gia nằm trên đường Phan Chu Trinh, phường Quang Vinh, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là công trình cổ có cấu trúc độc đáo, được Nhà nước công nhận Di tích lịch sử quốc gia năm 2013. Hiện nay, Thành cổ Biên Hòa trở nên hoang phế, xuống cấp nghiêm trọng, có thể sụp đổ bất cứ lúc nào.
Di tích thành... phế tích
Thành cổ Biên Hòa do người Lạp Man (Chân Lạp) đắp bằng đất vào thế kỷ XIV-XV với tên gọi là Thành Cựu. Năm 1837, vua Minh Mạng cho xây dựng lại bằng đá ong và đổi tên là Thành Biên Hòa. Khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam Bộ, Thành Biên Hòa là căn cứ phòng ngự, phản công của quan quân nhà Nguyễn. Đến năm 1861, người Pháp xây dựng lại bằng vật liệu đá ong, gốm, sứ… cận đại kết hợp với xi măng, sắt thép, gốm cao cấp châu Âu… theo kiến trúc biệt thự Pháp độc đáo, pha trộn giữa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây. Thành thiết kế gồm có cổng thành, tường thành (dài hơn 420m, cao 2,5m), lô cốt, biệt thự phía Tây Bắc và công trình kiến trúc phía Đông. Thời kỳ Mỹ chiếm đóng miền Nam, Thành Biên Hòa là nơi địch giam giữ, tra tấn chiến sĩ cách mạng của ta.
Thành Biên Hòa không chỉ là nơi minh chứng lịch sử đấu tranh anh dũng của quân dân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, mà còn là nơi ghi dấu thời kỳ lưu trú con người thuộc văn hóa Óc Eo-hậu Óc Eo; khẳng định sự trường tồn của văn hóa dân tộc nói chung và Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nói riêng.
Tìm đến đây, chúng tôi hỏi nhiều người dân phường Quang Vinh về di tích nhưng rất nhiều người không biết. Tận mắt chứng kiến cảnh hoang phế của di tích, chúng tôi hết sức chạnh lòng và không thể nhận ra, đây lại là di tích lịch sử cấp quốc gia. Không gian phía trước thành đã bị lạm dụng làm nơi bán cà phê. Còn xung quanh biệt thự, phía Tây là bãi đốt rác. Mặt tường biệt thự rêu mốc, gạch mục lở nham nhở nhiều chỗ đổ vỡ, đứt gãy. Mái tầng lầu sập từng mảng ngói lớn; bên trong mùi hôi nồng nặc; cánh cửa, cầu thang đổ gẫy vứt ngổn ngang; tường ngăn các phòng nghiêng đổ từng mảng, nền bị bong, tróc, mốc. Các khe biệt thự trở thành nơi chim, chuột làm tổ. Các góc nhà biến thành nơi chứa vật dụng sinh hoạt, chất phế thải. Tường thành xiêu vẹo rêu mốc, nhiều chỗ dây leo, cỏ dại phủ kín.
Khu biệt thự phía Tây Thành Biên Hòa trong cảnh hoang phế, nguy cơ đổ sập bất cứ lúc nào.
Khu biệt thự phía Tây Thành Biên Hòa trong cảnh hoang phế, nguy cơ đổ sập bất cứ lúc nào. 
Ông Nguyễn Tiến Trung (60 tuổi), nhà ở đường Phan Chu Trinh, phường Quang Vinh bức xúc: “Thành bị xuống cấp trầm trọng, lại bị một số người thiếu ý thức biến khuôn viên thành nơi đổ rác, rất ô nhiễm. Chúng tôi cũng xót lắm nhưng chẳng biết làm sao! Những trận mưa lớn cuối tháng 6 vừa qua đã làm gẫy thêm một cột khói và sụp thêm mái ngói…”. Được biết, việc quản lý di tích thời gian qua còn nhiều kẽ hở nên đã để một số tư liệu, di vật bị mất, biến dạng. Đây sẽ là những khó khăn lớn trong công tác tôn tạo, trùng tu. Ông Lê Trí Dũng, Giám đốc Ban quản lý Di tích Danh thắng, Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Nai cho biết: “Chúng tôi cũng tổ chức bảo vệ, vệ sinh nhưng do khu vực rộng, nhiều chỗ bị che khuất và khi tiếp nhận di tích đã xuống cấp nên khó quản lý, kiểm soát”.
Cần sửa chữa khẩn cấp
Thành Biên Hòa là di tích có giá trị to lớn về lịch sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, khoa học, khảo cổ học. Xây dựng cùng thời Thành Biên Hòa ở Nam Bộ, các thành: Gia Định, Vĩnh Long, Cần Thơ... đều đã sập đổ, chỉ còn duy nhất Thành Biên Hòa. Để bảo tồn di tích lịch sử, ông Trần Quang Toại, Phó giám đốc Sở Văn hóa-Thể thao và Du Lịch tỉnh Đồng Nai cho biết: “Sở cũng đã tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên nâng cao nhận thức, trình độ, trách nhiệm trong gìn giữ bảo vệ di tích. Cơ quan cũng đã báo cáo cấp trên đề án tôn tạo trùng tu, nhưng do kinh phí lớn (hơn 40 tỷ đồng), tỉnh còn nhiều công trình khác nữa, nên vẫn cứ phải đợi”.
Việc để di tích lịch sử quốc gia ngay trung tâm TP Biên Hòa bị hoang phế, nguy cơ sập đổ bất cứ lúc nào là rất khó chấp nhận. Trong lúc chờ đợi quyết định của các cấp có thẩm quyền, để di tích không bị hư hại, xuống cấp thêm trong mùa mưa bão, ngành chức năng cần khẩn trương tổ chức chống đỡ khẩn cấp, làm tốt công tác vệ sinh, củng cố cảnh quan môi trường di tích trong khả năng, quyền hạn của mình. Bên cạnh đó, cần tổ chức sưu tầm, quản lý cổ vật, hiện vật, tư liệu, hình ảnh..., tổ chức hội thảo lấy ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học, để có phương án phù hợp phục chế, phục hồi di vật, cổ vật, trùng tu di tích.

Độc đáo thành cổ đầu tiên xây hình lục giác ở VN

Thành cổ Bắc Ninh, công trình kiến trúc nghệ thuật quân sự tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh, được xây dựng từ năm 1805 thời Vua Gia Long, triều Nguyễn, trên địa phận các làng Ðỗ Xá, huyện Võ Giàng, Hòa Ðình (Tiên Du) và làng Yên Xá, huyện Yên Phong (nay thuộc phường Vệ An, TP.Bắc Ninh). Trấn lỵ của trấn Bắc Ninh trước kia ở xã Đáp Cầu thuộc huyện Võ Giàng. Tháng 2 năm Giáp Tý (1804), vua Gia Long cho dời trấn lỵ cũ đến xã Lỗi Đình thuộc huyện Tiên Du. Ảnh: Cột cờ Bắc Ninh và kho vũ khí.
 Thành cổ Bắc Ninh, công trình kiến trúc nghệ thuật quân sự tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh, được xây dựng từ năm 1805 thời Vua Gia Long, triều Nguyễn, trên địa phận các làng Ðỗ Xá, huyện Võ Giàng, Hòa Ðình (Tiên Du) và làng Yên Xá, huyện Yên Phong (nay thuộc phường Vệ An, TP.Bắc Ninh). Trấn lỵ của trấn Bắc Ninh trước kia ở xã Đáp Cầu thuộc huyện Võ Giàng. Tháng 2 năm Giáp Tý (1804), vua Gia Long cho dời trấn lỵ cũ đến xã Lỗi Đình thuộc huyện Tiên Du. Ảnh: Cột cờ Bắc Ninh và kho vũ khí. 
Lúc đầu, thành Bắc Ninh chỉ được đắp bằng đất, cho tới năm Minh Mạng thứ 6 (1825), thành được xây lại bằng đá ong và cuối cùng xây lại bằng gạch vào thời Thiệu Trị (1841). Thành xây tại chỗ giáp giới của 3 xã thuộc 3 huyện là Đỗ Xá (huyện Võ Giàng), Khúc Toại (huyện Yên Phong) và Lỗi Đình (huyện Tiên Du). Ảnh: Thành Bắc Ninh trên bưu ảnh Pháp.
 Lúc đầu, thành Bắc Ninh chỉ được đắp bằng đất, cho tới năm Minh Mạng thứ 6 (1825), thành được xây lại bằng đá ong và cuối cùng xây lại bằng gạch vào thời Thiệu Trị (1841). Thành xây tại chỗ giáp giới của 3 xã thuộc 3 huyện là Đỗ Xá (huyện Võ Giàng), Khúc Toại (huyện Yên Phong) và Lỗi Đình (huyện Tiên Du). Ảnh: Thành Bắc Ninh trên bưu ảnh Pháp. 
Trước khi Pháp chiếm, tỉnh lỵ của Bắc Ninh mới chỉ là một dãy phố trải dọc theo con đường trạm đá khoảng 1500 m, chủ yếu là hơn 1500 người Hoa trú ngụ, còn quan lại và chính quyền đóng trong thành. Năm 1892, tám năm sau khi Pháp chiếm Bắc Ninh, nhà thờ lớn của Tòa giám mục dòng Dominicain được xây dựng ở Bắc Ninh, kiến trúc đẹp và hoành tráng vẫn còn giữ đến ngày nay. Ảnh: Cổng thành Bắc Ninh ngày nay.
 Trước khi Pháp chiếm, tỉnh lỵ của Bắc Ninh mới chỉ là một dãy phố trải dọc theo con đường trạm đá khoảng 1500 m, chủ yếu là hơn 1500 người Hoa trú ngụ, còn quan lại và chính quyền đóng trong thành. Năm 1892, tám năm sau khi Pháp chiếm Bắc Ninh, nhà thờ lớn của Tòa giám mục dòng Dominicain được xây dựng ở Bắc Ninh, kiến trúc đẹp và hoành tráng vẫn còn giữ đến ngày nay. Ảnh: Cổng thành Bắc Ninh ngày nay. 
Thành Bắc Ninh được xây dựng theo đồ án “hình sáu cạnh”. Theo hệ đo lường cổ Việt Nam, thì thành chu vi 532 trượng 3 thước 2 tấc. Tường gạch cao 9 thước. Xung quanh có hào rộng 4 trượng sâu 5 thước. Thành có 4 cửa mỗi cửa đều có cầu đi qua hào. Ở sáu góc thành đều có pháo đài nhô ra ngoài, theo kiểu dáng điển hình Vauban. Đây rõ ràng là một thành lớn sau thành Hà Nội, chứng tỏ sự quan tâm nhiều của triều Nguyễn đối với tầm quan trọng mọi mặt của đất Bắc Ninh. Ảnh: Thành cổ Bắc Ninh.
 Thành Bắc Ninh được xây dựng theo đồ án “hình sáu cạnh”. Theo hệ đo lường cổ Việt Nam, thì thành chu vi 532 trượng 3 thước 2 tấc. Tường gạch cao 9 thước. Xung quanh có hào rộng 4 trượng sâu 5 thước. Thành có 4 cửa mỗi cửa đều có cầu đi qua hào. Ở sáu góc thành đều có pháo đài nhô ra ngoài, theo kiểu dáng điển hình Vauban. Đây rõ ràng là một thành lớn sau thành Hà Nội, chứng tỏ sự quan tâm nhiều của triều Nguyễn đối với tầm quan trọng mọi mặt của đất Bắc Ninh. Ảnh: Thành cổ Bắc Ninh. 
Theo GS, TS Ðỗ Văn Ninh, tác giả cuốn sách "Thành cổ Việt Nam", Thành Bắc Ninh là thành cổ đầu tiên của Việt Nam được xây dựng theo đồ án hình lục giác. Về kiến trúc, Thành Bắc Ninh là một trong bốn tòa thành đẹp nhất vùng Bắc Kỳ thời bấy giờ. Thành có diện tích 545.000 m², tường cao 9 thước đắp bằng đất đá, sau thành bằng gạch đá, chu vi dài hơn 532 trượng, chung quanh có hào nước sâu bao bọc.
 Theo GS, TS Ðỗ Văn Ninh, tác giả cuốn sách "Thành cổ Việt Nam", Thành Bắc Ninh là thành cổ đầu tiên của Việt Nam được xây dựng theo đồ án hình lục giác. Về kiến trúc, Thành Bắc Ninh là một trong bốn tòa thành đẹp nhất vùng Bắc Kỳ thời bấy giờ. Thành có diện tích 545.000 m², tường cao 9 thước đắp bằng đất đá, sau thành bằng gạch đá, chu vi dài hơn 532 trượng, chung quanh có hào nước sâu bao bọc.
Trong thành có sắp xếp các bộ phận gồm Doanh trấn thủ, Ðài bác vọng, kho thuốc súng, nhà Công đồng, Thời nhà Nguyễn, Thành Bắc Ninh là trung tâm bộ máy cai quản hành chính hai tỉnh Bắc Ninh - Thái Nguyên. Thời thuộc Pháp, xác định rõ vị trí, tầm quan trọng của tòa thành này, ngày 16/5/1925, toàn quyền Ðông Dương đã ký quyết định xếp hạng di tích Thành Bắc Ninh là công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu.
 Trong thành có sắp xếp các bộ phận gồm Doanh trấn thủ, Ðài bác vọng, kho thuốc súng, nhà Công đồng, Thời nhà Nguyễn, Thành Bắc Ninh là trung tâm bộ máy cai quản hành chính hai tỉnh Bắc Ninh - Thái Nguyên. Thời thuộc Pháp, xác định rõ vị trí, tầm quan trọng của tòa thành này, ngày 16/5/1925, toàn quyền Ðông Dương đã ký quyết định xếp hạng di tích Thành Bắc Ninh là công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu.

Trải qua nhiều năm, đặc biệt là qua một số trận đánh, tòa thành đã bị hủy hoại nhiều. Nơi đây là chiến trường của trận đánh tới 27.000 quân Pháp với quân Thanh và quân Việt năm 1884. Ngày 16 tháng 12 năm 1883, quân Pháp đánh chiếm được thành Sơn Tây. Hai ngày sau (18 tháng 12) ở Paris, nghị viện Pháp đã phấn khởi gửi thêm 7.000 quân, cấp 17 triệu quan và còn cho vay thêm 3 triệu nữa, để hoàn thành gấp công cuộc thống trị và bảo hộ ở Việt Nam. Giữa năm 1882 quân đội Mãn Thanh cũng tràn đến Bắc Ninh để tranh giành ảnh hưởng và lãnh thổ. Ảnh: Lính Pháp đang ngắm con voi của Tổng đốc Bắc Ninh Trương Quang Đán.
 Trải qua nhiều năm, đặc biệt là qua một số trận đánh, tòa thành đã bị hủy hoại nhiều. Nơi đây là chiến trường của trận đánh tới 27.000 quân Pháp với quân Thanh và quân Việt năm 1884. Ngày 16 tháng 12 năm 1883, quân Pháp đánh chiếm được thành Sơn Tây. Hai ngày sau (18 tháng 12) ở Paris, nghị viện Pháp đã phấn khởi gửi thêm 7.000 quân, cấp 17 triệu quan và còn cho vay thêm 3 triệu nữa, để hoàn thành gấp công cuộc thống trị và bảo hộ ở Việt Nam. Giữa năm 1882 quân đội Mãn Thanh cũng tràn đến Bắc Ninh để tranh giành ảnh hưởng và lãnh thổ. Ảnh: Lính Pháp đang ngắm con voi của Tổng đốc Bắc Ninh Trương Quang Đán. 
Giữa Pháp và Trung Hoa xảy ra việc điều đình, nên mặc dù vẫn gửi viện binh, nhưng chính phủ Pháp đã chỉ thị cho Tổng tư lệnh ở Bắc Kỳ là chỉ được đánh chiếm thêm Bắc Ninh và Hưng Hóa mà thôi, vì nếu đánh lên nữa sẽ đụng độ với quân Thanh, không có lợi cho việc nghị hòa trên.
 Giữa Pháp và Trung Hoa xảy ra việc điều đình, nên mặc dù vẫn gửi viện binh, nhưng chính phủ Pháp đã chỉ thị cho Tổng tư lệnh ở Bắc Kỳ là chỉ được đánh chiếm thêm Bắc Ninh và Hưng Hóa mà thôi, vì nếu đánh lên nữa sẽ đụng độ với quân Thanh, không có lợi cho việc nghị hòa trên. 
Thành Bắc Ninh là một căn cứ tập trung khá đông quân đội Việt và quân đội Thanh. Nhưng trước sự thất bại vừa rồi của thành Sơn Tây, Tổng đốc Bắc Ninh là Trương Quang Đản đã nao núng, nên ông đã cho rút quân ra khỏi thành về đóng ở huyện Tiên Du. Cho nên lúc bấy giờ ở ngoại vi thành chỉ có tướng nhà Thanh là Triệu Ốc trấn giữ, ở trong thành chỉ có Bố chính Nguyễn Tu, Án sát Nguyễn Ngọc Trân cùng 10.000 quân Thanh do Thống lĩnh Hoàng Quế Lan chỉ huy. Ảnh: Súng đạn và vũ khí quân Cờ đen bỏ lại, bị Pháp thu giữ.
Thành Bắc Ninh là một căn cứ tập trung khá đông quân đội Việt và quân đội Thanh. Nhưng trước sự thất bại vừa rồi của thành Sơn Tây, Tổng đốc Bắc Ninh là Trương Quang Đản đã nao núng, nên ông đã cho rút quân ra khỏi thành về đóng ở huyện Tiên Du. Cho nên lúc bấy giờ ở ngoại vi thành chỉ có tướng nhà Thanh là Triệu Ốc trấn giữ, ở trong thành chỉ có Bố chính Nguyễn Tu, Án sát Nguyễn Ngọc Trân cùng 10.000 quân Thanh do Thống lĩnh Hoàng Quế Lan chỉ huy. Ảnh: Súng đạn và vũ khí quân Cờ đen bỏ lại, bị Pháp thu giữ. 
Còn bên quân Pháp có cả thảy 16.300 quân, 55 khẩu đại bác và 6 tàu chiến. Đặc biệt, là lần này có thêm một công cụ mới để điều tra quan sát trận địa đó là chiếc khí cầu. Ảnh: Một đoạn tường thành Bắc Ninh bị sứt mẻ sau đợt tấn công của quân Pháp.
Còn bên quân Pháp có cả thảy 16.300 quân, 55 khẩu đại bác và 6 tàu chiến. Đặc biệt, là lần này có thêm một công cụ mới để điều tra quan sát trận địa đó là chiếc khí cầu. Ảnh: Một đoạn tường thành Bắc Ninh bị sứt mẻ sau đợt tấn công của quân Pháp.
Cuộc chiến đã diễn ra từ ngày 7 - 12/3/1884. Kết thúc trận đánh chiếm, theo Thomazi (1934) thì con số thiệt hại của đôi bên như sau: Bên quân Thanh: 100 chết và 400 bị thương. Bên quân Pháp: 9 chết và 39 bị thương. Ảnh: Pháo đài Bắc Ninh trên bản đồ trực tuyến, hình lục giác còn rất rõ ràng.
Cuộc chiến đã diễn ra từ ngày 7 - 12/3/1884. Kết thúc trận đánh chiếm, theo Thomazi (1934) thì con số thiệt hại của đôi bên như sau: Bên quân Thanh: 100 chết và 400 bị thương. Bên quân Pháp: 9 chết và 39 bị thương. Ảnh: Pháo đài Bắc Ninh trên bản đồ trực tuyến, hình lục giác còn rất rõ ràng. 
Nhưng theo Trần Trọng Kim, thì quân Pháp có 8 người chết và 40 bị thương. Phạm Văn Sơn, trong Việt sử tân biên, ghi tương tự, nhưng còn cho biết thêm là trên đường tháo chạy về Thái Nguyên (vì Pháp đã cho chặn đường về Lạng Sơn), quân Thanh đã bỏ lại nhiều súng ống, đạn dược và hàng trăm khẩu đại bác. Ảnh: Sơ đồ thành Bắc Ninh vẽ năm 1909.
 Nhưng theo Trần Trọng Kim, thì quân Pháp có 8 người chết và 40 bị thương. Phạm Văn Sơn, trong Việt sử tân biên, ghi tương tự, nhưng còn cho biết thêm là trên đường tháo chạy về Thái Nguyên (vì Pháp đã cho chặn đường về Lạng Sơn), quân Thanh đã bỏ lại nhiều súng ống, đạn dược và hàng trăm khẩu đại bác. Ảnh: Sơ đồ thành Bắc Ninh vẽ năm 1909. 
Cho đến nay ngôi Thành này vẫn chưa hề được tu bổ, tôn tạo, ngược lại còn bị chiến tranh, mưa tuôn nắng dội, sự xâm lấn của con người đã làm cho di tích bị xuống cấp nghiêm trọng. Dấu tích còn lại của Thành cổ Bắc Ninh là ba cổng thành, một phần bờ thành và dãy hào sâu, hai khẩu súng thần công, trong đó nổi bật là cổng tiền với đài gác vọng, cột cờ cao gần 20 m. Ảnh: Cổng Bắc thành sau đợt tấn công của quân Pháp.
Cho đến nay ngôi Thành này vẫn chưa hề được tu bổ, tôn tạo, ngược lại còn bị chiến tranh, mưa tuôn nắng dội, sự xâm lấn của con người đã làm cho di tích bị xuống cấp nghiêm trọng. Dấu tích còn lại của Thành cổ Bắc Ninh là ba cổng thành, một phần bờ thành và dãy hào sâu, hai khẩu súng thần công, trong đó nổi bật là cổng tiền với đài gác vọng, cột cờ cao gần 20 m. Ảnh: Cổng Bắc thành sau đợt tấn công của quân Pháp.
Cổng chính thành Bắc Ninh trên bưu ảnh Pháp.
 Cổng chính thành Bắc Ninh trên bưu ảnh Pháp.
 

Một đoạn công sự do quân Cờ đen đắp năm 1884 để chống lại quân Pháp.
 Một đoạn công sự do quân Cờ đen đắp năm 1884 để chống lại quân Pháp.
Hào nước phía bên ngoài pháo đài.
 Hào nước phía bên ngoài pháo đài.















Vẻ đẹp của quần đảo Nhật-Hàn đang tranh chấp “tóe lửa“

(Kiến Thức) - Tranh chấp giữa Nhật-Hàn với đảo Liancourt đã kéo dài hàng trăm năm, và nhiều chứng cứ đã được hai bên đưa ra để chứng minh chủ quyền.

Đảo Liancourt là tên quốc tế gọi nhóm đảo nhỏ đang nằm trong vòng tranh chấp giữa Nhật Bản và Hàn Quốc. Nhật Bản gọi quần đảo này là Takeshima (Trúc đảo), trong khi Hàn Quốc gọi là Dokdo (Độc đảo).
Đảo Liancourt là tên quốc tế gọi nhóm đảo nhỏ đang nằm trong vòng tranh chấp giữa Nhật Bản và Hàn Quốc. Nhật Bản gọi quần đảo này là Takeshima (Trúc đảo), trong khi Hàn Quốc gọi là Dokdo (Độc đảo).

Khám phá cổ thành độc nhất VN thời Hai Bà Trưng

(Kiến Thức) - Ít ai biết, ẩn sau từng mô đất, tượng đá, suối nước ở đền thờ Hai Bà Trưng là hệ thống thành trì độc đáo, chứa đựng nghệ thuật quân sự cổ của hai vị liệt nữ anh hùng.

Bí mật thành ống
Đền thờ Hai Bà Trưng tọa lạc trên một mô đất hình trán voi cạnh sông Hồng, đoạn chảy qua huyện Mê Linh, Hà Nội, đến nay, nhiều tư liệu lịch sử ghi lại rằng: “Hai Bà Trưng được sinh ra ở vùng đất có hình con voi trắng đang uống nước hồ, cho nên khí phách mạnh mẽ, ngang tàng, khi dấy binh khởi nghĩa thì chỉ cần một lời kêu gọi trăm người nghe theo, vì lấy được lòng dân đên sự nghiệp đánh giặc cứu nước sớm toại thành”.

Đọc nhiều nhất

Tin mới