Cây ngâu hay còn gọi là ngâu tán tròn, là loại cây trồng để làm cảnh và cũng là một vị thuốc quý đối với sức khỏe con người.
Theo y học cổ truyền, hoa ngâu có tính bình, vị ngọt pha cay nhẹ, được cho là có tác dụng giải uất, hành khí. Dược liệu này thường được dùng để hỗ trợ điều trị đầy bụng, khó tiêu, đau tức ngực.
Cành và lá ngâu có tính hơi ôn, giúp giảm đau, tiêu viêm, hoạt huyết, thường được dùng trong các bài thuốc chữa sốt rét, long đờm, hen suyễn hoặc nấu nước tắm trị ghẻ ngứa, mụn nhọt. Rễ và quả tươi của cây ngâu trong dân gian còn được dùng gây nôn để xử lý các trường hợp ngộ độc.
Hoa và lá được dùng để làm thuốc. Ảnh minh họa/Internet
Cây ngâu thường được sử dụng dưới dạng sắc uống, hãm trà hoặc giã tươi, nấu cao để dùng ngoài da. Liều dùng đường uống được khuyến cáo không vượt quá 30 g mỗi ngày.
Ở một số quốc gia, cách sử dụng cây ngâu cũng khá phổ biến. Tại Trung Quốc, rễ, lá và hoa ngâu được dùng làm thuốc bổ, lá và cành ngâu hỗ trợ điều trị thấp khớp, nhiễm trùng. Tại Philippines, người dân sắc nước từ rễ và lá để uống bồi bổ sức khỏe, còn hoa ngâu được dùng làm nước giải nhiệt.
Các bài thuốc chữa bệnh dùng cây ngâu cần có chỉ dẫn chuyên môn từ bác sĩ/ Ảnh minh họa/Internet
Một số bài thuốc chữa bệnh với dược liệu cây ngâu
Giải rượu: Cho 10g hoa ngâu, 10g hoa sắn dây vào rồi rót nước sôi nóng già vào ngâm uống.
Đau nhức xương khớp khi thay đổi thời tiết: Cành lá ngâu 30g, dây đau xương 20g, cốt toái bổ 10g, ké đầu ngựa 10g. Tất cả cho vào ấm, đổ 700ml nước, đun nhỏ lửa còn 200ml nước, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liền 10 ngày.
Chữa chứng bế kinh: Hoa ngâu 10g, rượu 50g. Cho hoa vào rượu, thêm vào chút nước, nấu cách thủy đến khi hoa chín nhừ, để nguội uống. Uống trước ngày có kinh 5 ngày, ngày uống một lần vào buổi tối trước khi đi ngủ, uống liền 5 ngày.
Hỗ trợ điều trị hen suyễn: Uống trà có ướp hoa ngâu hoặc hoa ngâu ngâm nước sôi già để nguội uống đều có kết quả tốt.
Chữa sưng đau, bầm tím do ngã: Hoa ngâu, lá ngâu mỗi thứ 50g. Gộp chung cả hai thứ, cho 700ml nước, đun nhỏ lửa cô thành cao. Mỗi lần dùng, bôi một ít cao này lên vải mỏng đắp vào chỗ vết thương sưng đau, 2 giờ thay băng một lần, ngày 2 lần. Đắp đến khi vết thương giảm sưng đau.
Chữa sốt, vàng da: Dùng lá ngâu, mã đề, lá hoặc quả dành dành, mỗi vị 10 – 16g, sắc uống.
Gây nôn, giải độc thực phẩm, đờm tích lâu ngày: Lá ngâu 20g, giã nát, vắt lấy nước cốt uống, hoặc 30g sắc uống. Sau khi xổ đờm, hoặc nôn được chất độc ra, cho bệnh nhân ăn cháo đậu xanh, tiếp tục dùng các thuốc khác để điều trị các triệu chứng khác.
Lưu ý khi sử dụng cây ngâu để chữa bệnh
Tuy tính dược lý của cây ngâu tương đối phong phú nhưng chưa có minh chứng khoa học cho thấy sự an toàn với thai kỳ. Vì thế, thai phụ không nên dùng bất cứ thành phần nào của cây ngâu để chữa bệnh.
Người mắc bệnh tiểu đường hạn chế ăn quả ngâu hàng ngày để không bị tác động đến việc kiểm soát chỉ số đường huyết.
Cây ngâu dùng làm dược liệu là ngâu ta, không phải các giống ngâu ngoại lai cùng họ. Người dùng cần nhận diện đúng để không dùng sai dược liệu.
Các bài thuốc sử dụng dược liệu từ cây ngâu trên đây mang tính tổng hợp từ nguồn dân gian truyền miệng. Bất cứ trường hợp nào có ý định chữa bệnh từ thảo dược này, tốt nhất vẫn cần có sự thăm khám, đánh giá đúng tình trạng sức khỏe và tư vấn chi tiết từ bác sĩ có chuyên môn.