![]() |
| PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch thường trực Hội Nghề cá Việt Nam. |
![]() |
| PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch thường trực Hội Nghề cá Việt Nam. |
![]() |
| PGS.TS Nguyễn Chu Hồi - Phó Chủ tịch thường trực VINAFIS (st). |
Hiện nay, VINAFIS có 32 hội thành viên là các tỉnh hội, trong đó có 25 tỉnh hội ven biển, 3 Hiệp hội và 79 hội viên tập thể là các doanh nghiệp, các đơn vị sự nghiệp, cơ quan nghiên cứu khoa học và hàng chục nghìn hội viên.
Trao đổi với vusta.vn, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi - Phó Chủ tịch thường trực VINAFIS cho biết, cả nước đang sôi nổi triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII và Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo đó, thủy sản được xác định là một trong sáu ngành kinh tế biển then chốt cần ưu tiên phát triển hiệu quả, bền vững và ngư dân nước ta đóng vai trò tiên phong trong công cuộc không chỉ làm giàu cho đất nước, mà còn thực hiện “chủ quyền dân sự” của Việt Nam trên Biển Đông.
PGS Hồi cho biết thêm, VINAFIS xác định và nhận diện ba vấn đề: ngư dân, ngư nghiệp và ngư trường trong đó bao gồm bảo tồn biển, bảo vệ nguồn lợi và môi trường thủy sản là các yếu tố cơ bản cấu thành một nghề cá bền vững dựa trên nền tảng của kinh tế biển xanh. Do đó, ưu tiên giải quyết đồng bộ ba vấn đề trên sẽ góp phần: Tăng cường “thế và lực” để Việt Nam tiếp tục hội nhập quốc tế sâu rộng; Bảo đảm phát triển nghề cá hiệu quả và bền vững gắn với cải thiện sinh kế của các cộng đồng ngư dân ven biển và trên các đảo; Giảm thiểu các mâu thuẫn lợi ích và xung đột không gian giữa các ngành/cộng đồng trong quá trình khai thác và sử dụng cùng một vùng biển; Giúp ngăn ngừa và giảm thiểu các hoạt động đánh bắt thủy sản bất hợp pháp trong bối cảnh phức tạp ở Biển Đông; Tạo ra các giá trị “văn hóa biển” độc đáo Việt Nam – nền tảng cho phát triển kinh tế biển xanh ở nước ta; Bảo vệ các quyền và lợi ích của Việt Nam trên Biển Đông, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982…
![]() |
Và thời gian qua, VINAFIS đã chú trọng triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, thiết thực, kịp thời đối với ngư dân liên quan tới các rủi ro thiên tai và “nhân tai” khi đánh bắt hải sản trên các ngư trường truyền thống thuộc các vùng biển của nước ta. Tham gia các hoạt động phản biện xã hội trong quá trình xây dựng và thực hiện các dự án, các chính sách, chiến lược, luật pháp liên quan tới phát triển thủy sản ở nước ta.
Bám sát tình hình hoạt động trên biển, VINAFIS thường xuyên tiếp nhận, thẩm định, phản ánh và kiến nghị các biện pháp lên các cơ quan chức năng, các tổ chức hữu trách để xử lý kịp thời các tình huống xấu, các vụ tai nạn gây thiệt hại về người và tàu thuyền của ngư dân ta. VINAFIS cũng bày tỏ quan điểm phản đối dưới nhiều hình thức khác nhau đối với những hành vi vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của nước ta, ảnh hưởng xấu đến các hoạt động của ngư dân.
Đặc biệt, tiếng nói “hồn cốt” về biển đảo và về ngư dân nước ta đã được chuyển tải và phản ánh ngay tại diễn đàn Quốc hội thông qua Đại biểu Quốc hội đại diện cho VINAFIS và cử tri ngư dân cả nước.
Ngoài ra, kết hợp với các Hội Thủy sản của các tỉnh, VINAFIS rất chú trọng hoạt động nâng cao nhận thức cho cộng đồng ngư dân, trang bị kỹ năng quản lý cho cán bộ quản lý nghề cá cấp cơ sở; hỗ trợ pháp luật, chuyển giao công nghệ mới và tiên tiến; triển khai áp dụng các mô hình khai thác, NTTS bền vững; các mô hình quản lý nghề cá mới, như: quản lý theo chuỗi giá trị, quản lý tổng hợp nghề cá dựa vào hệ sinh thái và đồng quản lý nguồn lợi thủy sản mà về bản chất là “Nhà nước và Nhân dân cùng làm, cùng hưởng”.
![]() |
Điển hình cho các hoạt động này, có thể kể là các dự án của Hội Nghề cá Bình Thuận với sự hỗ trợ tài chính của Chương trình dự án nhỏ Quỹ môi trường toàn cầu và UBND tỉnh Bình Thuận. Các kết quả của dự án đồng quản lý thủy sản ở huyện Hàm Thuận Nam cho thấy sự đúng đắn của Luật Thủy sản (2017) và các luật khác liên quan tới biển được Quốc hội thông qua gần đây.
Hiện nay, Chương trình dự án nhỏ Quỹ môi trường toàn cầu đang hỗ trợ triển khai dự án liên quan đến ngăn chặn đánh bắt IUU ở Bình Thuận dựa trên việc xây dựng mô hình cộng đồng đánh cá “tự quản, tự điều chỉnh, tự kiểm soát” vì sự bền vững của nguồn lợi và nghề cá do ngư dân “làm chủ”…
Thời gian tới, bên cạnh tiếp tục phát huy các kết quả đạt được và thúc đẩy các hoạt động nói trên, VINAFIS sẽ chú trọng đến tăng cường vị thế, uy tín và đóng góp của Hội đối với đất nước, ngành thủy sản và ngư dân thông qua đẩy mạnh hoạt động kinh tế, truyền thông. Đóng góp các sáng kiến và tư vấn các biện pháp để quản lý theo chuỗi trên cơ sở áp dụng “chuyển đổi số” trong các hoạt động: sản xuất và bảo quản sản phẩm thủy sản, chế biến và xuất khẩu thủy sản, quản lý nghề cá và kiểm soát các hoạt động tàu thuyền đánh cá trên biển, PGS Hồi cho hay.
Bên cạnh đó, để hướng tới chuyên nghiệp hóa trong hoạt động, Ban Chấp hành Hội đã đưa ra nhiệm vụ trong thời gian tới cần đẩy mạnh đổi mới hoạt động công tác Hội, từng bước chuyên nghiệp hóa hoạt động từ Văn phòng Trung ương và một số Tỉnh hội trọng điểm. Tăng cường vận động để phát triển thêm nhiều hội viên tập thể là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, dịch vụ tham gia Hội. Phấn đấu trở thành một tổ chức xã hội được Nhà nước đánh giá cao, được giao thực hiện nhiều nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội…
Với định hướng như vậy, VINAFIS xứng đáng là đại diện của ngư dân, là đối tác tin cậy của ngành thủy sản. Ngư dân luôn đồng hành cùng dân tộc, VINAFIS sẽ đồng hành cùng ngư dân vì sự nghiệp phát triển nghề cá bền vững và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, PGS Hồi cho biết.
GS.TSKH. Phan Xuân Dũng đề nghị Vĩnh Long đặc biệt quan tâm tạo môi trường thuận lợi để đội ngũ trí thức trẻ phát huy năng lực, trí tuệ và khát vọng cống hiến.
GS.TSKH. Phan Xuân Dũng đề nghị Vĩnh Long đặc biệt quan tâm tạo môi trường thuận lợi để đội ngũ trí thức trẻ phát huy năng lực, trí tuệ và khát vọng cống hiến.
ĐBQH Châu Văn Minh kiến nghị thống nhất quy định giữa các luật, cắt giảm thủ tục chồng chéo, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong nông nghiệp, môi trường.
ĐBQH Châu Văn Minh đề nghị xây dựng Luật Phát triển đô thị theo hướng phân quyền mạnh, kiến tạo phát triển, tạo khung pháp lý ổn định, lâu dài cho các đô thị.
26 tuổi, cơ hội thăng tiến rộng mở tại Pháp, GS Ngụy Như Kon Tum đã chọn rời Paris trở về, cống hiến trọn đời cho đất nước.
Các chuyên gia đề xuất hoàn thiện dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) theo hướng tăng tính khả thi và hiệu quả thực thi.
Sau 13 năm thực thi, Luật Xuất bản được đề xuất sửa đổi để đáp ứng chuyển đổi số, AI, bảo vệ bản quyền, hoàn thiện thể chế và khơi thông nguồn lực phát triển.
Hơn 20 năm nghiên cứu châm cứu cổ truyền, GS.VS Ngô Xuân Bính đã tạo nên bước đột phá y khoa, khẳng định giá trị tri thức Việt trên trường quốc tế.
ĐBQH Châu Văn Minh Luật Dầu khí chỉ phát huy hiệu quả khi có cơ chế thực thi đồng bộ, minh bạch; đồng thời đề xuất bổ sung quy định về AI, dữ liệu số.
ĐBQH Châu Văn Minh cho rằng các hội có vai trò quan trọng trong công bố tri thức, nghiên cứu khoa học và cần được tạo điều kiện phát triển xuất bản.
Sinh ra trong dòng họ khoa bảng, GS Phan Huy Lê dành trọn cuộc đời nghiên cứu, để lại nhiều công trình có giá trị, góp phần làm sáng tỏ lịch sử Việt Nam.
GS Charles Cường Nguyễn chế tạo thành công cánh tay robot cho NASA xây ISS, mở ra nhiều hợp tác giáo dục Việt - Mỹ và nhận giải Thành tựu trọn đời tại Mỹ.
GS.VS Phạm Minh Hạc được coi là bậc “đại sư” của giáo dục Việt Nam. Ông là đặt nền móng, chèo lái giáo dục Việt Nam vượt qua những năm tháng gian khó.
Là người Việt đầu tiên nhận bằng Tiến sĩ khoa học tại Lomonosov, GS Vũ Đình Cự đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp khoa học, công nghệ và phát triển đất nước.
Mang theo chiếc va ly lúa giống từ Nhật Bản trở về, GS Lương Định Của đã dành trọn đời nghiên cứu, đưa khoa học đến với đồng ruộng Việt Nam.
Gần 40 năm cống hiến cho y học, PGS.TS Nguyễn Trung Chính tiên phong phát triển ung bướu quân y, đưa kỹ thuật ghép tế bào gốc về miền Bắc.
GS.TS.BS Nguyễn Văn Chương đã dành trọn hơn nửa thế kỷ tận hiến, đặt nền móng vững chắc cho ngành Chống đau Việt Nam.
Một đời gắn bó với khoa học và sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân, GS Nguyễn Anh Trí luôn theo đuổi mục tiêu dùng tri thức để phụng sự đất nước.
Từ một cây giống ban đầu, GS.VS Trần Đình Long cùng cộng sự tạo nên giống cỏ ngọt ST88, mở ra giá trị mới cho nông nghiệp Việt Nam.
Cả cuộc đời gắn với những ca bệnh nguy kịch, GS Vũ Văn Đính đã góp phần xây dựng chuyên ngành hồi sức cấp cứu, chống độc và đào tạo nhiều thế hệ bác sĩ.
Anh hùng Lao động Nguyễn Thị Nguyệt cùng cộng sự chế tạo thành công máy biến áp 500kV, đưa Việt Nam trở thành nước thứ 12 sản xuất thiết bị này.