“Anh đi bộ đội sao trên mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm…”
Những câu thơ của nhà thơ Vũ Cao đã đi cùng năm tháng, trở thành ký ức của nhiều thế hệ về một người con gái đẹp trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Ít ai biết rằng, phía sau hình tượng “em” trong bài thơ “Núi Đôi” là một con người có thật, liệt sĩ Trần Thị Bắc, nữ du kích quê ở Phù Linh (Sóc Sơn, Hà Nội), người đã hy sinh khi mới 22 tuổi trong một lần làm nhiệm vụ bảo vệ đoàn cán bộ.
Cuộc đời của chị, cùng câu chuyện tình bi tráng giữa những năm tháng chiến tranh, đã trở thành nguồn cảm hứng để nhà thơ Vũ Cao viết nên một trong những bài thơ xúc động nhất về liệt sĩ trong nền thơ ca Việt Nam.
Hình tượng bất tử trong bài thơ “Núi đôi”
Bài thơ “Núi Đôi” được Vũ Cao sáng tác năm 1955, trong thời gian nhà thơ điều trị tại Bệnh viện 74 ở Sóc Sơn. Tại đây, ông được nghe đồng đội và người dân Phù Linh kể về một nữ du kích trẻ tuổi đã anh dũng hy sinh khi làm nhiệm vụ ở khu vực Núi Đôi.
Người con gái ấy là Trần Thị Bắc, sinh năm 1932 tại xóm Chùa, thôn Xuân Đoài, xã Phù Linh, huyện Đa Phúc, nay thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
Tuổi thơ của chị gắn với những năm tháng đất nước chìm trong chiến tranh. Cha bị thực dân Pháp bắt giam, người chú ruột tham gia lực lượng cách mạng rồi hy sinh. Những mất mát của gia đình và quê hương đã sớm hun đúc ở cô gái trẻ ý chí đấu tranh và khát vọng cống hiến.
Năm 1949, khi mới 17 tuổi, cô gái Trần Thị Bắc tham gia công tác phụ nữ xã, sau đó xung phong vào đội du kích địa phương. Khi ấy, Núi Đôi không chỉ là cảnh đẹp của vùng trung du mà còn là vị trí quân sự quan trọng, nơi thực dân Pháp xây dựng hệ thống đồn bốt kiên cố nhằm kiểm soát vùng cửa ngõ phía bắc Hà Nội.
Trong hoàn cảnh đó, người nữ du kích trẻ đảm nhận nhiều nhiệm vụ nguy hiểm: quân báo, cứu thương, binh vận, tổ chức đưa đón cán bộ qua vùng địch kiểm soát.
Theo lời kể của các nhân chứng lịch sử tại địa phương, liệt sĩ Trần Thị Bắc là người thông minh, gan dạ, nhiều lần cải trang để thu thập tin tức, xây dựng cơ sở trong lòng địch. Hình ảnh cô gái tóc dài, khăn mỏ quạ, gánh hàng đi chợ nhưng mang trên vai những nhiệm vụ bí mật của cách mạng đã trở thành ký ức khó quên với người dân Phù Linh.
Chính từ cuộc đời ấy, nhà thơ Vũ Cao đã xây dựng nên hình tượng người con gái trong “Núi Đôi”, một vẻ đẹp vừa bình dị, vừa kiên cường:
“Em sống trung thành chết thủy chung
Anh ngước nhìn lên hai dốc núi…”
Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn/Đâu ngờ từ đó bặt tin nhau...
Theo lời nhà thơ Vũ Cao, trong bài thơ, chỉ chi tiết “Bảy năm về trước em mười bảy/Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng” là hư cấu. Và thực tế, liệt sĩ Bắc đã có chồng chứ không phải mới có người yêu như trong bài thơ.
Họ gặp nhau trong những năm tháng kháng chiến. Khi ấy, chị theo học lớp y tá ở xã Bắc Sơn, còn anh đóng quân tại địa phương. Cùng quê Phù Linh, họ tìm thấy sự đồng cảm giữa những ngày đất nước còn chia cắt bởi chiến tranh.
Tình yêu của họ nảy nở giản dị như bao mối tình thời kháng chiến, không có những lời hứa hẹn xa hoa, chỉ có niềm tin vào ngày hòa bình. Hai người dự định sẽ tổ chức đám cưới sau khi anh hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu. Ngày 9/12/1953, trong vùng tự do Hồng Kỳ, mẹ liệt sĩ Trần Thị Bắc đã gánh bánh kẹo đến làm lễ cưới cho hai con.
Đám cưới giữa những năm tháng gian khó chỉ có những điều đơn sơ. Chiếc giường hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ là một ổ rơm thơm mùi đồng quê. Nhưng hạnh phúc ấy quá ngắn ngủi.
Chỉ hai ngày sau lễ cưới, chị Trần Thị Bắc trở về quê làm nhiệm vụ. Người chồng trẻ không thể ngờ đó là lần chia tay cuối cùng. Sự dang dở ấy cũng đã thể hiện rõ trong “Núi Đôi”:
“Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn
Đâu ngờ từ đó bặt tin nhau…”
Ngày 16/3/1954, Trần Thị Bắc nhận nhiệm vụ dẫn đường cho một đoàn cán bộ từ vùng tự do vào vùng tạm chiếm ở xã Phù Linh. Khi đoàn đến khu vực bãi Thái Hòa, họ lọt vào ổ phục kích của địch.
Trong khoảnh khắc nguy hiểm, chị đã kịp hô báo động để đồng đội tránh thương vong. Nhưng loạt đạn của kẻ thù đã cướp đi cuộc đời người nữ du kích trẻ.
Trần Thị Bắc hy sinh khi mới 22 tuổi. Câu chuyện ấy đã trở thành nỗi ám ảnh để Vũ Cao viết nên những câu thơ đau đáu:
“Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói
Núi vẫn đôi mà anh mất em"
Hai câu thơ chứa đựng nỗi đau đến tột cùng. Núi Đôi vẫn còn đó, con đường quê vẫn còn đó, nhưng người con gái đã mãi mãi nằm lại giữa mùa xuân của tuổi trẻ.
“Ai viết tên em thành liệt sĩ
Bên những hàng bia trắng giữa đồng
Nhớ nhau anh gọi: Em, đồng chí
Một tấm lòng trong vạn tấm lòng"
Khi đọc bài thơ “Núi Đôi” Vũ Cao, độc giả không chỉ thấy câu chuyện của một mối tình riêng, mà là nỗi xúc động trước sự chia ly của hàng vạn đôi lứa trong chiến tranh. Tiếng gọi “em, đồng chí” khiến tình yêu cá nhân hòa vào tình cảm cách mạng. Người con gái của một gia đình, một quê hương đã trở thành biểu tượng của cả dân tộc và bất tử:
“Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm”
Tháng 7/2018, Nhà nước truy tặng liệt sĩ Trần Thị Bắc danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Như bông hoa trên đỉnh Núi Đôi, lặng lẽ tỏa hương qua năm tháng, câu chuyện về liệt sĩ Trần Thị Bắc nhắc nhớ các thế hệ hôm nay sự tri ân, biết ơn biết bao người đi trước đã sống, chiến đấu và hy sinh, dâng hiến tuổi thanh xuân vì độc lập, tự do của Tổ quốc.