Hành trình khát máu của tên Tây lai thời chiến tranh VN

Jean Léon Leroy là con thứ ba của tên lính săn đã giải ngũ René Théophile Leroy, dân địa phương thường gọi là "Tây La Ra".

Trong kháng chiến chống Pháp, Bến Tre là một trong những nơi mà lực lượng cách mạng gặp nhiều khó khăn trong việc bám đất bám dân để tổ chức kháng chiến. Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng này là do sự dã man, hung bạo của tên Tây lai Léon Leroy. Thời kỳ làm Quận trưởng Bình Đại (1945 - 1950), sau đó, trong những năm 1950 - 1952, khi làm Tỉnh trưởng Bến Tre, áp dụng "mô hình" của Bình Đại, Leroy tiếp tục gieo rắc tội ác cho nhân dân cả tỉnh.
Chân dung tên Tây lai Leroy
Jean Léon Leroy là con thứ ba của tên lính săn đã giải ngũ René Théophile Leroy, dân địa phương thường gọi là "Tây La Ra". Théophile Leroy người gốc đảo Corse, mãn hạn đi lính ở Đông Dương không về xứ mà đến Bình Đại làm chân gác rừng bần ven biển Bình Đại cho tên thực dân người Pháp Christophe, thường gọi là Ký Tốt. Leroy nhân đó dựa hơi Ký Tốt để chiếm đất làm địa chủ. Tại đây hắn cưới một "me Tây" tên là Võ Thị Khánh, người gốc Gò Công, dân địa phương gọi là "cô Năm". Bà ta là dân buôn bán hàng chuyến, sống buông thả, sang Bình Đại gặp Théophile Leroy và lấy nhau rồi trở thành địa chủ.
Leroy. Ảnh: N.M.H. (chụp lại từ ảnh tư liệu của ông Lê Quang Trò (Chín Quang), nguyên Bí thư huyện uỷ Bình Đại).
 Leroy. Ảnh: N.M.H. (chụp lại từ ảnh tư liệu của ông Lê Quang Trò (Chín Quang), nguyên Bí thư huyện uỷ Bình Đại).
Vợ chồng Leroy làm chủ 500 mẫu đất (có tài liệu nói gần 1.000 mẫu vừa đất ruộng vừa đất vườn), phần lớn nay thuộc xã Bình Thắng. Chúng bắt dân khai hoang thành đất tốt rồi tìm nhiều cách để chiếm đoạt, sau đó cho nông dân thuê cày cấy để thu tô. Đến mùa, chúng lội xuống ruộng đồng, đến nhà từng người dân để thu lúa, không thiếu một giạ. Nhân dân trong vùng gọi Théophile Leroy là "Tây ăn mắm sống" vì khi hắn đến nhà nông dân, gặp gì ăn nấy. Còn những người có học gọi hắn là "Tây nói tiếng bồi" vì hắn ta vốn không được học hành gì mấy. Vợ chồng này có 3 con, trong đó có một con trai tên là Michel, vốn bị câm, nên người dân gọi là "Câm". Léon là con thứ ba và là đứa con trội nhất.
Léon Leroy sinh năm 1920 tại Bình Đại. Lớn lên, Léon được gửi học tú tài ở Trường Chasseloup Laubat ở Sài Gòn, sau đó vào lính và được đi học trường sĩ quan trù bị Ton của quân đội Pháp ở Sơn Tây. Hắn ra trường với cấp bậc chuẩn úy. Thỉnh thoảng, hắn vẫn về quê mẹ ở thị trấn Bình Đại. Với đầu óc chứa đầy tham vọng pha chút máu giang hồ vặt, lại là con chiên lai Pháp ngoan đạo, hắn chọn con đường tiến thân bằng binh nghiệp.
Nhật đảo chính Pháp, Léon Leroy bị bắt giam ở Sài Gòn, tháng 9/1945, được thả ra và chạy theo quân đội viễn chinh Pháp. Pháp chiếm lại Sài Gòn và các tỉnh Nam bộ, hắn có công tổ chức lực lượng thân binh đầu đỏ, dẫn đường cho quân đội Pháp đánh chiếm Sài Gòn, Mỹ Tho, Cần Thơ nên được thăng cấp thiếu úy cuối năm 1945 (vì vậy hắn thường được gọi là "Một On" - quan một là cấp thiếu úy, On là tên Léon của hắn theo cách gọi của dân địa phương). Đầu năm 1946, hắn dẫn đầu lính đầu đỏ theo quân viễn chinh Pháp dưới quyền chỉ huy của đại úy De Champorant về tái chiếm cù lao An Hóa và trực tiếp chiếm đóng khu vực Bình Đại.
Thực dân Pháp dùng Léon Leroy thay cho bọn sĩ quan Pháp là nhằm mục đích "dùng người Việt đánh người Việt", "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", mà thực chất là tiêu diệt kháng chiến, chiếm đóng và thống trị lâu dài đất nước ta và riêng đối với cù lao An Hóa, nơi được bọn thực dân xâm lược coi là có điều kiện để làm thí điểm thực hiện chính sách thâm độc nói trên. Không chỉ vậy, dưới mác tôn giáo, Léon Leroy là con cờ của thực dân Pháp nhằm xây dựng một lực lượng tín-đồ-binh-sĩ để sẵn sàng "tử vì đạo".
Hành trình khát máu của Léon Leroy và tay chân
Đầu tháng 12/1945, địch bắt đầu thực hiện kế hoạch tái chiếm cù lao An Hóa. Chúng cho máy bay bắn phá dọc theo sông Ba Lai và sông Cửa Đại, phong tỏa các đường đi lại của ta trên sông, tăng cường các hoạt động do thám, tung tin thất thiệt, móc nối với bọn tay sai đang nằm im chờ cơ hội ngóc đầu dậy, gây rối an ninh trong xóm ấp, tạo tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng.
Ngày 15/12/1945, Léon Leroy chỉ huy một trung đội lính thân binh đầu đỏ (partisan) đổ bộ lên vàm Bà Trang, đột kích chớp nhoáng vào chợ Bình Đại rước mẹ hắn và bắt đi một số người.
Leroy đang phủ dụ các bà xơ (ảnh trong hồi ký "Việt Nam máu lửa quê hương tôi" của Đỗ Mậu, NXB văn nghệ 2007).
 Leroy đang phủ dụ các bà xơ (ảnh trong hồi ký "Việt Nam máu lửa quê hương tôi" của Đỗ Mậu, NXB văn nghệ 2007).
Sau khi chiếm đóng xong các tỉnh xung quanh, tháng 2/1946, giặc Pháp bắt đầu thực hiện kế hoạch tái chiếm cù lao An Hóa (địa bàn huyện Bình Đại hiện nay) và toàn bộ tỉnh Bến Tre.
Sau khi Pháp chiếm Bến Tre và cù lao An Hóa (lúc bấy giờ còn thuộc tỉnh Mỹ Tho), Léon Leroy được cử giữ chức "Đại lý hành chánh tạm thời" ở cù lao này. Tại đây, hắn đã tổ chức những cuộc càn quét, đốt phá, tàn sát tập thể ở nhiều nơi. Do những "thành tích" đánh phá phong trào cách mạng, tháng 7/1947, hắn được cử làm quận trưởng An Hóa. Cũng trong thời gian này, hắn đã sáng lập ra đội quân cuồng tín "Bảo vệ đạo Thiên Chúa" - UMDC. Và chính tổ chức này với chính sách đốt sạch, phá sạch, giết lầm hơn bỏ sót, như một hung thần khát máu, hắn đã giết hơn 3.000 dân Bình Đại trong vòng 3 năm, và nếu kể cả Bến Tre, con số bị giết lên đến cả vạn.
Tội ác đẫm máu của Léon Leroy và đạo quân "uống máu dân chúng" của hắn là những trang sử bi thảm nhất của quận An Hóa (Bình Đại ngày nay) trong thời kỳ chống Pháp.
Ngày 6/1/1947 (tức rằm tháng Chạp âm lịch năm Bính Tuất), tổ công tác của dân quân Bình Đại bị địch phục kích, người của ta chạy thoát nhưng địch lấy được tài liệu trong đó có bản danh sách của dân quân tự vệ mật làng Bình Đại. Léon Leroy bắt tập trung 112 người thuộc ấp Bình Thạnh (nay là xã Thạnh Trị) đưa ra vàm Bà Khoai (gần thị trấn Bình Đại hiện nay) bắn chết và đạp xác xuống sông Cửa Đại, trong số này chỉ có 2 người may mắn tháo được dây trói chạy thoát.
Ngày 20/1/1948 (29 tết), Léon Leroy lại bắt tiếp 14 người tại ấp Bình Huề (nay là xã Đại Hòa Lộc) chặt đầu bỏ vào giỏ rồi đem ra bêu tại chợ Bình Đại buộc thân nhân người chết phải ra giữa chợ nhận đầu người thân đem về chôn mà không được kêu khóc.
Từ giữa đến cuối năm 1946, Léon Leroy tổ chức ra nhóm chuyên ám sát giết người gọi là "đảng hắc y" (đảng áo đen), còn có tên là "đảng sọ người" vì trên mũ của chúng có đính huy hiệu chiếc sọ người và 2 chiếc xương bắt chéo. Bọn này ban đêm bắt người đi thủ tiêu rồi vu khống là Việt Minh sát hại. Chúng giết người rất dã man: chặt đầu, mổ bụng, móc lấy gan mật. Man rợ nhất là chúng uống rượu, ăn gan người, uống say lại đi bắt và giết người.
Thời kỳ lên làm chủ quận An Hóa thay cho De Champorant, Léon Leroy sử dụng bọn "sọ người" và lính đầu đỏ càn quét các làng trong quận; những nơi chúng hành quân đi qua chỉ còn lại những đống tro tàn, máu và nước mắt. Bọn tay chân của hắn tha hồ nhúng tay vào máu, cả những tên hội tề, chủ ấp cũng trực tiếp giết người.
Để khống chế nhân dân, uy hiếp kháng chiến, chúng bắn giết người rất bừa bãi. Gia đình có người đi kháng chiến bị khủng bố hành hạ đủ điều. Đêm đêm trai tráng phải đi ngủ khóm, ngày làm đồn bót cho chúng. Ai không làm theo hoặc trốn tránh sẽ bị bỏ tù hoặc bắn bỏ. Nơi nào có hoạt động của ta thì lính đầu đỏ đốt hết nhà cửa, hãm hiếp phụ nữ. Hàng đêm ở Rạch Miễu, cầu Ba Lai, cầu tàu An Hóa, Phú Thuận, Bến Đình, vàm Bà Khoai thường xảy ra những cuộc bắn giết, súng nổ, người chết, xác người trôi trên sông không lúc nào dứt…
Từ những trung đội lính thân binh đầu đỏ ban đầu, tháng 7/1947, Léon Leroy được tướng De La Tour, Tư lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương, cho phép thành lập 3 Chiến đoàn lưu động Công giáo để bảo vệ Bến Tre (UMDC), do Lèon Leroy làm Thanh tra với cấp bậc đại úy. Nhân dân thường gọi bọn này là đội quân "uống máu dân chúng". Léon Leroy tập luyện bọn này rất công phu. Từ chỗ hành quân thông thường đốt nhà, cướp của, hãm hiếp, giết người, đóng đồn bót theo chiến thuật "mạng nhện" của De la Tour, hắn còn huấn luyện bọn này đủ kiểu giết người man rợ nhất. Năm 1948, lực lượng vũ trang này đổi thành "Tiểu đoàn Phụ lực quân" (Forces Suppletifs) thuộc quân đội viễn chinh Pháp do Leroy chỉ huy với cấp bậc trung tá. Với "chiến tích" hành động dã man tàn sát dân chúng, năm 1949, Léon Leroy được thăng cấp đại tá.
Oán thù chồng chất, dân đồng lòng nổi dậy
Ngày 28/10/1946, Chi đội 19, bộ đội chủ lực của Bến Tre phối hợp với Phân đội Nguyễn Trung Trực của đồng chí Bùi Sĩ Hùng và dân quân địa phương diệt đồn Nhà giấy tại ngã tư Lộc Thuận, đánh tan quân cứu viện của địch từ cụm Thới Lai xuống, tên Leroy bị thương chạy thoát chết. Bọn địch đóng ở đồn Tân Định hoảng hốt bỏ đồn chạy về Rạch Gừa, đơn vị của đồng chí Cao Thành Sang chặn đánh thu 12 súng.
Ngày 15/3/1947, Chi đội 19 lại kết hợp với lực lượng vũ trang và dân quân địa phương đánh đồn Tân Định, chặn viện từ Bình Đại lên và An Hóa xuống. Ta tiêu diệt 1 tiểu đội "hắc y" lên tiếp viện cho đồn Tân Định tại ngã ba Cây Trôm, đánh thiệt hại nặng bọn từ Bình Đại lên ở phía Cả Nhỏ (Bình Trung) đánh tan bãi xe chở bọn lính Pháp từ An Hóa xuống cứu viện tại đoạn đường Thới Lai xuống Phú Vang. Trong trận này, nhân dân địa phương tham gia rất hăng hái. Diệt được Đội Trừ và Đội Phạm, hai tên ác ôn trong "đảng hắc y", nhân dân trong vùng Hòa Thinh rất phấn khởi.
Sau thất bại ở Tân Định - Lộc Thuận, địch thực hiện âm mưu phản kích đẩy lực lượng ta ra xa, mở rộng vùng chiếm đóng, tăng cường khống chế vùng tạm chiếm. Cuối tháng 3/1947, chúng càn quét Giồng Kiến (Phú Long) đốt 150 ngôi nhà, tàn sát nhân dân. Đồng bào và cán bộ phải rút qua cù lao Lá. Từ tháng 4 đến giữa năm 1947, Leroy hành quân tái chiếm các làng Thừa Đức, Thới Thuận, đóng thêm đồn bót dày đặc dọc tuyến sông Ba Lai và sông Cửa Đại, đẩy lực lượng ta ở các làng khu vực Hòa Thinh sang phía cù lao Bảo, lúc này đang còn nhiều nơi là vùng tự do.
Trong những tháng đầu năm 1948, địch tập trung lấn chiếm các xã còn lại của vùng Hòa Quới, ta vẫn duy trì một số hoạt động du kích ở khu vực Hòa Thinh. Tháng 3/1948, du kích ném lựu đạn vào Hội chợ do Léon Leroy tổ chức tại chợ Bình Đại. Tháng 6/1948, kết hợp với cơ sở trong lòng địch, ta lấy đồn Thới Thuận lần thứ hai. Cuối năm 1948, địch chiếm đóng toàn bộ huyện, phong trào tạm lắng xuống.
Cuối năm 1949, Công an Xung phong huyện đã phục kích tại xã Quới Sơn (Châu Thành) bắn tên Léon Leroy bị thương nặng. Hắn phải nghỉ một thời gian dài để về Pháp chữa bệnh. Sau đó hắn được đề bạt đại tá và trở về làm Tỉnh trưởng Bến Tre (12/1949).
Để ngăn chặn mưu toan tiếp tục chiếm đóng cù lao Minh của địch, cuối năm 1949 đầu năm 1950, chiến dịch Bến Tre được mở ra bao gồm vùng Chợ Lách và phía tây Mỏ Cày, hướng phối hợp là vùng trên của huyện Sóc Sãi cùng các hoạt động khác trong toàn tỉnh.
Kết thúc chiến dịch, ta diệt 4 đồn, giải phóng xã Tân Bình và tiến vào võ trang tuyên truyền ở khu Công giáo Cái Mơn, Cái Nhum, chặn đánh hai mũi tiến quân của Pháp và ngụy vào cứu viện. Lực lượng ta dừng chân tổng kết ở Tân Trung, Minh Đức, Hương Mỹ. Léon Leroy điều một tiểu đoàn sang Tân Trung càn quét thăm dò, bị Tiểu đoàn 307 bao vây tiêu diệt gần hết.
Sau khi ta mở chiến dịch Bến Tre đánh địch ở cù lao Minh (tháng 7/1950), đến tháng 9/1950, địch điều động hắn về làm Tỉnh trưởng, kiêm Chỉ huy trưởng Tiểu khu Bến Tre, các tiểu đoàn UMDC về làm lực lượng cơ động cho Tiểu khu.
Từ cuối năm 1952, do sự phát triển của chiến trường, uy thế của Léon Leroy ngày càng sa sút. Các đơn vị UMDC, chỗ dựa của hắn bị tiêu hao nặng. Ngày 1/12/1952, tướng Nguyễn Văn Hinh được cử làm Tham mưu trưởng quân đội bù nhìn, chủ trương nhập lực lượng UMDC vào quân đội hoàng gia Bảo Đại, bất chấp sự phản đối của hắn. Leroy được rút sang Mỹ Tho làm chỉ huy trưởng phân khu (thực quyền không còn như trước), đưa Nguyễn Thi Giỏi lên làm Tỉnh trưởng Bến Tre. Tham vọng đổ vỡ, Léon Leroy bất mãn bỏ lên Sài Gòn. Tháng 4/1953, hắn xin chuyển về Pháp.
Vào cuối thập niên 50 đầu 60, Léon Leroy trở thành ông chủ một đồn điền nho lớn ở Algeria...
Léon Leroy chết tại Pháp năm 2005.

10 câu nói để đời của Alexander Đại đế

(Kiến Thức) - Alexander Đại đế là vị vua vĩ đại của đế chế Macedonia, đã thực hiện nhiều cuộc chinh phạt lẫy lừng và có nhiều câu nói bất hủ trong đời. 

1. Alexander Đại đế là một trong những vị tướng thành công nhất trong lịch sử, người đã chinh phạt gần như toàn bộ thế giới mà ông biết trước khi qua đời đã từng nói: "Tôi xin cảm ơn cha đã cho tôi cuộc sống. Tôi hàm ơn những thầy giáo đã cho tôi cuộc sống tốt đẹp".
1. Alexander Đại đế là một trong những vị tướng thành công nhất trong lịch sử, người đã chinh phạt gần như toàn bộ thế giới mà ông biết trước khi qua đời đã từng nói: "Tôi xin cảm ơn cha đã cho tôi cuộc sống. Tôi hàm ơn những thầy giáo đã cho tôi cuộc sống tốt đẹp".

Chùm ảnh: Tội ác man rợ của Mỹ trong chiến tranh VN

(Kiến Thức) – Những bức ảnh của Horst Faas cho thấy rõ hơn quy mô và sự tàn khốc của cuộc chiến tranh Mỹ gây ra trên đất nước Việt Nam.

Một gia đình dân thường may mắn sống sót sau hai ngày oanh tạc dữ dội của Mỹ xuống khu vực Đồng Xoài, tháng 6/1965.
Một gia đình dân thường may mắn sống sót sau hai ngày oanh tạc dữ dội của Mỹ xuống khu vực Đồng Xoài, tháng 6/1965.

Những phụ nữ và trẻ em Việt Nam nấp dưới dòng kênh để tránh đạn ngày 1/1/1966.
 Những phụ nữ và trẻ em Việt Nam nấp dưới dòng kênh để tránh đạn ngày 1/1/1966.

Đứa trẻ bám vào mẹ trong cuộc chạy trốn bom đạn nhìn chằm chằm vào khẩu M79 của một lính nhảy dù Mỹ.
Đứa trẻ bám vào mẹ trong cuộc chạy trốn bom đạn nhìn chằm chằm vào khẩu M79 của một lính nhảy dù Mỹ.

Một người lính chính quyền Sài Gòn sử dụng cán dao đánh liên tiếp một người nông dân vì người này bị cáo buộc cung cấp những thông tin không chính xác về hoạt động của du kích tại một làng phía Tây của Sài Gòn, ngày 9/1/1964.
Một người lính chính quyền Sài Gòn sử dụng cán dao đánh liên tiếp một người nông dân vì người này bị cáo buộc cung cấp những thông tin không chính xác về hoạt động của du kích tại một làng phía Tây của Sài Gòn, ngày 9/1/1964.

Phụ nữ và trẻ em Việt Nam trên đường từ trường học trở về nhà ở làng Xuân Điền, Bến Cát, Việt Nam. Các binh sĩ thuộc sư đoàn bộ binh số một cảnh giới nghiêm ngặt trên con đường này.
Phụ nữ và trẻ em Việt Nam trên đường từ trường học trở về nhà ở làng Xuân Điền, Bến Cát, Việt Nam. Các binh sĩ thuộc sư đoàn bộ binh số một cảnh giới nghiêm ngặt trên con đường này.

Bức ảnh ngày 27/11/1965 chụp một người lính dọn xác đeo khẩu trang đi trên con đường la liệt xác người.
Bức ảnh ngày 27/11/1965 chụp một người lính dọn xác đeo khẩu trang đi trên con đường la liệt xác người.

Một phụ nữ Việt Nam than khóc bên xác chồng mình, được tìm thấy cùng với 47 người khác trong một nấm mồ tập thể gần Huế, tháng 4/1969.
Một phụ nữ Việt Nam than khóc bên xác chồng mình, được tìm thấy cùng với 47 người khác trong một nấm mồ tập thể gần Huế, tháng 4/1969.

Một lính Mỹ thuộc đại đội A, tiểu đoàn 1, sư đoàn bộ binh số 16 mang một đứa trẻ đang khóc từ làng Cam Xe sau khi ném một lựu đạn phốt pho vào một công sự trong chiến dịch gần khu trồng cao su Michelin, Tây Bắc Sài Gòn, ngày 22 /8/1966. Một trung đội của Sư đoàn bộ binh số 1 đã bố ráp ngôi làng, lùng sục những tay súng bắn tỉa đã gây ra nhiều thương vong. Binh lính đã xua khoảng 40 cư dân ra khỏi ngôi làng trước khi pháo kích phá huỷ hoàn toàn ngôi làng.
Một lính Mỹ thuộc đại đội A, tiểu đoàn 1, sư đoàn bộ binh số 16 mang một đứa trẻ đang khóc từ làng Cam Xe sau khi ném một lựu đạn phốt pho vào một công sự trong chiến dịch gần khu trồng cao su Michelin, Tây Bắc Sài Gòn, ngày 22 /8/1966. Một trung đội của Sư đoàn bộ binh số 1 đã bố ráp ngôi làng, lùng sục những tay súng bắn tỉa đã gây ra nhiều thương vong. Binh lính đã xua khoảng 40 cư dân ra khỏi ngôi làng trước khi pháo kích phá huỷ hoàn toàn ngôi làng.

Bức ảnh được chụp ngày 19/3/1964, bức ảnh đem về cho Horst Faas giải Pulitzer đầu tiên: Một người cha ôm thi hài đứa con trong tay và đưa ra trước mặt quân lính chính quyền Sài Gòn - những kẻ đang thản nhiên ngồi trên xe bọc thép. Đứa trẻ đã bị giết khi đội quân này thực hiện cuộc truy lùng quân du kích tại một ngôi làng gần biên giới Campuchia.
Bức ảnh được chụp ngày 19/3/1964, bức ảnh đem về cho Horst Faas giải Pulitzer đầu tiên: Một người cha ôm thi hài đứa con trong tay và đưa ra trước mặt quân lính chính quyền Sài Gòn - những kẻ đang thản nhiên ngồi trên xe bọc thép. Đứa trẻ đã bị giết khi đội quân này thực hiện cuộc truy lùng quân du kích tại một ngôi làng gần biên giới Campuchia.

Một người phụ nữ Việt Nam trẻ che miệng khi cô nhìn chằm chằm vào một ngôi mộ tập thể ở ngôi làng gần Điện Bài, phía đông của Huế, trong tháng 4/1969.
Một người phụ nữ Việt Nam trẻ che miệng khi cô nhìn chằm chằm vào một ngôi mộ tập thể ở ngôi làng gần Điện Bài, phía đông của Huế, trong tháng 4/1969. 


Sau khi lính Mỹ càn vào một ngôi làng cách Sài Gòn 72 km, ngày 12/9/1966, những người tình nghi sẽ được bàn giao cho quân đội của chính quyền Sài Gòn. Hai đứa bé cũng bị bịt mắt.
Sau khi lính Mỹ càn vào một ngôi làng cách Sài Gòn 72 km, ngày 12/9/1966, những người tình nghi sẽ được bàn giao cho quân đội của chính quyền Sài Gòn. Hai đứa bé cũng bị bịt mắt.

Một người lính của Sư đoàn bộ binh 25 với mồ hôi và bụi bẩn, băng qua rừng rậm tuần tra gần biên giới Campuchia, 26/11/1966.
Một người lính của Sư đoàn bộ binh 25 với mồ hôi và bụi bẩn, băng qua rừng rậm tuần tra gần biên giới Campuchia, 26/11/1966.

Nhân viên y tế vội vàng mang Trung tá George Eyster trên cáng tới máy bay trực thăng sau khi ông ta bị bắn ở Lập Trung, miền Nam Việt Nam, ngày 16/1/1966. Eyster, 43 tuổi, người Florida và chỉ huy của tiểu đoàn"Black Lions", Sư đoàn 1, đã chết 42 giờ sau đó tại một bệnh viện Biên Hòa.
Nhân viên y tế vội vàng mang Trung tá George Eyster trên cáng tới máy bay trực thăng sau khi ông ta bị bắn ở Lập Trung, miền Nam Việt Nam, ngày 16/1/1966. Eyster, 43 tuổi, người Florida và chỉ huy của tiểu đoàn"Black Lions", Sư đoàn 1, đã chết 42 giờ sau đó tại một bệnh viện Biên Hòa.

PFC. James F. Duro quê ở Boston, Mass, một lính của Sd C,nằm kiệt sức trên một kênh đê điều trong các đầm lầy của đồng bằng sông Cửu Long gần Bảo Trãi, khoảng 20 dặm về phía tây Sài Gòn, vào ngày 4/1/1966. Một cuộc oanh kích bằng pháo binh "nhầm địa chỉ" làm quân Mỹ chết và bị thương.
PFC. James F. Duro quê ở Boston, Mass, một lính của Sd C,nằm kiệt sức trên một kênh đê điều trong các đầm lầy của đồng bằng sông Cửu Long gần Bảo Trãi, khoảng 20 dặm về phía tây Sài Gòn, vào ngày 4/1/1966. Một cuộc oanh kích bằng pháo binh "nhầm địa chỉ" làm quân Mỹ chết và bị thương.

Quân Mỹ Tiểu đoàn bộ binh 28 bò lê bò càng tránh đạn của du kích bắn ra từ đường hầm 25 dặm về phía tây bắc Sài Gòn, ngày 9/1/1966.
Quân Mỹ Tiểu đoàn bộ binh 28 bò lê bò càng tránh đạn của du kích bắn ra từ đường hầm 25 dặm về phía tây bắc Sài Gòn, ngày 9/1/1966.

Giấc ngủ của những người lính chính quyền Sài Gòn trên một tàu sân bay của Hải quân Mỹ khi con tàu hướng về Cà Mau, tháng 8/1962.
Giấc ngủ của những người lính chính quyền Sài Gòn trên một tàu sân bay của Hải quân Mỹ khi con tàu hướng về Cà Mau, tháng 8/1962.

Một quân nhân Mỹ đội chiếc mũ viết dòng chữ “Chiến tranh là địa ngục”, ngày 18/6/1965.
Một quân nhân Mỹ đội chiếc mũ viết dòng chữ “Chiến tranh là địa ngục”, ngày 18/6/1965.

Horst Faas ở chiến trường Việt Nam năm 1967. Vào thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Horst Faas là người đứng đầu bộ phận ảnh của hãng thông tấn AP tại Sài Gòn trong gần một thập kỷ, từ năm 1962-1970. Ông đã nhiều lần có mặt trên các chiến trường miền Nam Việt Nam để ghi lại những khoảnh khắc chân thực của cuộc chiến tranh khốc liệt này.
Horst Faas ở chiến trường Việt Nam năm 1967. Vào thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Horst Faas là người đứng đầu bộ phận ảnh của hãng thông tấn AP tại Sài Gòn trong gần một thập kỷ, từ năm 1962-1970. Ông đã nhiều lần có mặt trên các chiến trường miền Nam Việt Nam để ghi lại những khoảnh khắc chân thực của cuộc chiến tranh khốc liệt này.

Horst Faas từng đoạt bốn giải thưởng nhiếp ảnh, trong đó có hai giải Pulitzer. Ông qua đời ngày 10/5/2012 ở Munich, Đức, thọ 79 tuổi.
Horst Faas từng đoạt bốn giải thưởng nhiếp ảnh, trong đó có hai giải Pulitzer. Ông qua đời ngày 10/5/2012 ở Munich, Đức, thọ 79 tuổi.


Tiết lộ những người phục vụ bí mật cho Mao Trạch Đông

(Kiến Thức) - Họ là những con người thầm lặng phục vụ cho Mao Trạch Đông trong những năm cuối đời ông mà ít ai biết đến.

Khi còn sống, Mao Trạch Đông đã kiên quyết phản đối chế độ đặc quyền, ông nói không với chế độ đãi ngộ đặc biệt. Trung Quốc những năm 60 rất nghèo đói, vào những ngày khó khăn nhất, con gái ông là Lý Mẫn và Lý Nột cũng chịu cảnh bụng đói như tất cả người dân Trung Quốc. Nhưng, vào những năm cuối đời, vì sức khỏe của ông yếu đi, nên ông không thể không “đặc biệt” được nữa.
Khi còn sống, Mao Trạch Đông đã kiên quyết phản đối chế độ đặc quyền, ông nói không với chế độ đãi ngộ đặc biệt. Trung Quốc những năm 60 rất nghèo đói, vào những ngày khó khăn nhất, con gái ông là Lý Mẫn và Lý Nột cũng chịu cảnh bụng đói như tất cả người dân Trung Quốc. Nhưng, vào những năm cuối đời, vì sức khỏe của ông yếu đi, nên ông không thể không “đặc biệt” được nữa. 
1. Đội y tế. Đội y tế của Mao Trạch Đông đã có hai lần thay đổi thành viên trước và sau khi thành lập. Lần thứ nhất từ năm 1971 đến năm 1972, cũng là thời gian Tổng thống Mỹ Nixon viếng thăm Trung Quốc. Lần thứ hai vào năm 1974 khi Mao Trạch Đông sắp qua đời. Vì bác sĩ ngoại khoa Ngô Giai Bình thuộc nhóm một đã chuyển sang phục vụ Đặng Tiểu Bình.
1. Đội y tế. Đội y tế của Mao Trạch Đông đã có hai lần thay đổi thành viên trước và sau khi thành lập. Lần thứ nhất từ năm 1971 đến năm 1972, cũng là thời gian Tổng thống Mỹ Nixon viếng thăm Trung Quốc. Lần thứ hai vào năm 1974 khi Mao Trạch Đông sắp qua đời. Vì bác sĩ ngoại khoa Ngô Giai Bình thuộc nhóm một đã chuyển sang phục vụ Đặng Tiểu Bình
Lễ đề bạt giáo sư Từ Đào Giáo làm đội phó đội y tế lần một của Mao Trạch Đông.
Lễ đề bạt giáo sư Từ Đào Giáo làm đội phó đội y tế lần một của Mao Trạch Đông. 
2. Nhóm Đại Tự Bản. Sở dĩ nhóm được đặt tên là “Đại Tự Bản” là vì nhóm sẽ ghi chép lại những quyển sách mà Mao Trạch Đông muốn xem, sau đó sẽ biên tập lại thành “chữ to” rồi cho xuất bản. Nhóm được thành lập vào mùa thu năm 1972. Lần đầu tiên nhóm biên tập bốn cuốn “Tạ An”, “”Tạ Huyền”, “Hoàn Y”, “Lưu Lao Chi” trong bộ “Tấn Thư” theo yêu cầu của Mao Trạch Đông. Trong ảnh là cuốn “Diêm Thiết Luận” được in lại theo cỡ chữ to.
2. Nhóm Đại Tự Bản. Sở dĩ nhóm được đặt tên là “Đại Tự Bản” là vì nhóm sẽ ghi chép lại những quyển sách mà Mao Trạch Đông muốn xem, sau đó sẽ biên tập lại thành “chữ to” rồi cho xuất bản. Nhóm được thành lập vào mùa thu năm 1972. Lần đầu tiên nhóm biên tập bốn cuốn “Tạ An”, “”Tạ Huyền”, “Hoàn Y”, “Lưu Lao Chi” trong bộ “Tấn Thư” theo yêu cầu của Mao Trạch Đông. Trong ảnh là cuốn “Diêm Thiết Luận” được in lại theo cỡ chữ to. 
Với những chuyển biến nghiêm trọng của căn bệnh đục thủy tinh thể của Mao Trạch Đông, nhóm Đại Tự Bản đã cho in các quyển sách thành “cỡ chữ 36pt”. Nhưng thời đó chưa có cỡ chữ này, vì vậy Xưởng in Trung Hoa ở Thượng Hải đã đúc khuôn chữ 36pt riêng cho Mao Trạch Đông.
Với những chuyển biến nghiêm trọng của căn bệnh đục thủy tinh thể của Mao Trạch Đông, nhóm Đại Tự Bản đã cho in các quyển sách thành “cỡ chữ 36pt”. Nhưng thời đó chưa có cỡ chữ này, vì vậy Xưởng in Trung Hoa ở Thượng Hải đã đúc khuôn chữ 36pt riêng cho Mao Trạch Đông. 
4. Nhóm hát ngâm. Nhóm bí mật thu âm những bài ngâm thơ cổ. Việc tổ chức và ghi âm là do Bộ trưởng Bộ văn hóa Vu Hội Dưỡng đảm đương. Trong ảnh là nghệ sĩ hát ngâm Nhạc Mỹ, thành viên của nhóm.
4. Nhóm hát ngâm. Nhóm bí mật thu âm những bài ngâm thơ cổ. Việc tổ chức và ghi âm là do Bộ trưởng Bộ văn hóa Vu Hội Dưỡng đảm đương. Trong ảnh là nghệ sĩ hát ngâm Nhạc Mỹ, thành viên của nhóm. 
Các nghệ sĩ nổi tiếng thời đó hội tụ với nhau, gồm có diễn viên múa ba lê Lưu Đức Hải, nghệ sĩ đàn nhị Mẫn Huệ Phần, nghệ sĩ thổi sáo Trương Hiểu Huy v.v. Bảo tàng Thiều Sơn hiện đang lưu giữ hơn 59 cuộn băng cassette ngâm thơ cổ. Để các nghệ sĩ biểu diễn hiểu được ý nghĩa và ý cảnh chính xác của thơ từ, họ đã mời bốn vị giáo sư cổ văn ở Đại học Bắc Kinh về giảng giải.
Các nghệ sĩ nổi tiếng thời đó hội tụ với nhau, gồm có diễn viên múa ba lê Lưu Đức Hải, nghệ sĩ đàn nhị Mẫn Huệ Phần, nghệ sĩ thổi sáo Trương Hiểu Huy v.v. Bảo tàng Thiều Sơn hiện đang lưu giữ hơn 59 cuộn băng cassette ngâm thơ cổ. Để các nghệ sĩ biểu diễn hiểu được ý nghĩa và ý cảnh chính xác của thơ từ, họ đã mời bốn vị giáo sư cổ văn ở Đại học Bắc Kinh về giảng giải.
5. Nhóm hí kịch. Tại những nơi Mao Trạch Đông đến, thường tổ chức biểu diễn, và luôn có xe truyền hình lưu động phát sóng phục vụ riêng cho ông. Năm 1974, khi Mao Trạch Đông nghỉ dưỡng ở Trường Sa, các diễn viên của nhà hát Tương và Hoa Cổ đều nhận được nhiệm vụ diễn lại những vở kịch cũ như “Sự sống và cái chết”, “Thảo học tiền”. Các diễn viên không biết nên diễn lại những vở kịch cũ đã bị cải cách phế xú như thế nào. Ban đầu không ai dám diễn.
5. Nhóm hí kịch. Tại những nơi Mao Trạch Đông đến, thường tổ chức biểu diễn, và luôn có xe truyền hình lưu động phát sóng phục vụ riêng cho ông. Năm 1974, khi Mao Trạch Đông nghỉ dưỡng ở Trường Sa, các diễn viên của nhà hát Tương và Hoa Cổ đều nhận được nhiệm vụ diễn lại những vở kịch cũ như “Sự sống và cái chết”, “Thảo học tiền”. Các diễn viên không biết nên diễn lại những vở kịch cũ đã bị cải cách phế xú như thế nào. Ban đầu không ai dám diễn. 
Sau khi được Hoa Quốc Phong nhắn nhủ họ mới yên tâm biểu diễn. Khi đó, Hồ Nam chưa có thiết bị tiếp sóng, Trung Ương lập tức gửi ngay một máy tiếp sóng đến để phát sóng trực tiếp cho Mao Trạch Đông. Không ngờ, thiết bị tiếp sóng này lại bị một số cán bộ lão thành Giang Tây từng được thấy thiết bị này bắt gặp, liền sôi nổi báo cáo với tỉnh Hồ Nam. Họ cho rằng Hồ Nam đang khôi phục lại.
 Sau khi được Hoa Quốc Phong nhắn nhủ họ mới yên tâm biểu diễn. Khi đó, Hồ Nam chưa có thiết bị tiếp sóng, Trung Ương lập tức gửi ngay một máy tiếp sóng đến để phát sóng trực tiếp cho Mao Trạch Đông. Không ngờ, thiết bị tiếp sóng này lại bị một số cán bộ lão thành Giang Tây từng được thấy thiết bị này bắt gặp, liền sôi nổi báo cáo với tỉnh Hồ Nam. Họ cho rằng Hồ Nam đang khôi phục lại.
6. Nhóm đặc chế xì gà. Trước đây Mao Trạch Đông hút thuốc lá Trung Hoa, sau này ông chuyển sang hút xì gà. Chuyện này là do Gia Long. Một buổi chiều năm 1956, khi Gia Long chuyện trò với Mao Trạch Đông, đã tán dương loại xì gà đang hút trên tay mình. Mao Trạch Đông hiếu kỳ hút một hơi thật sâu, và ngay lập tức hứng thú với mùi thơm mát lạnh nguyên chất. Ông nhận ra đây là xì gà của nhà máy thuốc lá Thập Phương ở Tứ Xuyên.
6. Nhóm đặc chế xì gà. Trước đây Mao Trạch Đông hút thuốc lá Trung Hoa, sau này ông chuyển sang hút xì gà. Chuyện này là do Gia Long. Một buổi chiều năm 1956, khi Gia Long chuyện trò với Mao Trạch Đông, đã tán dương loại xì gà đang hút trên tay mình. Mao Trạch Đông hiếu kỳ hút một hơi thật sâu, và ngay lập tức hứng thú với mùi thơm mát lạnh nguyên chất. Ông nhận ra đây là xì gà của nhà máy thuốc lá Thập Phương ở Tứ Xuyên. 
Ngay sau đó, người của Mao Trạch Đông hàng tháng đều phái người từ Bắc Kinh đến Tứ Xuyên lấy xì gà mà không kinh động đến nhà máy thuốc lá Thập Phương. Nhưng điều này không hề dễ dàng. Sau này, họ chọn vài chuyên gia kỹ thuật cốt cán của nhà máy thuốc lá Thập Phương thành lập nhóm “Nhất Tam Nhị”. Mấy chuyên gia người Tứ Xuyên này sau đều chuyển nhà đến Bắc Kinh.
Ngay sau đó, người của Mao Trạch Đông hàng tháng đều phái người từ Bắc Kinh đến Tứ Xuyên lấy xì gà mà không kinh động đến nhà máy thuốc lá Thập Phương. Nhưng điều này không hề dễ dàng. Sau này, họ chọn vài chuyên gia kỹ thuật cốt cán của nhà máy thuốc lá Thập Phương thành lập nhóm “Nhất Tam Nhị”. Mấy chuyên gia người Tứ Xuyên này sau đều chuyển nhà đến Bắc Kinh. 

Đọc nhiều nhất

Tin mới