Việt Nam có khoảng 19,5% dân số, tương đương 20 triệu người đang sống chung với thừa cân - béo phì. Đáng chú ý, tỷ lệ thừa cân - béo phì ở Việt Nam đang tăng khoảng 38%, thuộc mức cao nhất trong khu vực Đông Nam Á.
Theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia, tỷ lệ thừa cân và béo phì ở trẻ 5-19 tuổi nước ta đã tăng từ 8,5% năm 2010 lên 19% năm 2020. Ở khu vực thành thị, tỷ lệ béo phì lên tới 26,8%, cao hơn đáng kể so với nông thôn (18,3%). Đáng lo ngại, tỷ lệ béo phì ở thanh thiếu niên tại TP HCM vượt 50%, còn Hà Nội trên 41%.
Không chỉ dừng ở con số, béo phì đang trở thành yếu tố nguy cơ chính dẫn đến đái tháo đường tuýp 2, tim mạch, đột quỵ, ngưng thở khi ngủ, thoái hóa khớp hay hội chứng buồng trứng đa nang.
Tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em cũng tăng nhanh. Sau 10 năm, tỷ lệ học sinh thừa cân, béo phì đã tăng gấp đôi từ 8,5% lên 19%. Tại các đô thị lớn, con số này đạt khoảng 26%, tiệm cận nhiều quốc gia phát triển. Dự báo đến năm 2030, khoảng một nửa người trưởng thành Việt Nam sẽ bị thừa cân, trong đó tỷ lệ béo phì ước đạt 17% ở nam và 22% ở nữ.
Việt Nam hiện xếp thứ 108 trong số 183 nước về mức độ sẵn sàng điều trị béo phì, phản ánh khoảng trống đáng kể trong hệ thống chăm sóc và quản lý căn bệnh này.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), thừa cân và béo phì là một dạng suy dinh dưỡng thể thừa năng lượng nhưng thường thiếu hụt vi chất dinh dưỡng, xảy ra khi cơ thể tích tụ lượng mỡ dư thừa bất thường.
Bác sĩ Lê Thị Tình, Trung tâm Kỹ thuật cao và Tiêu hóa Hà Nội, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn (Hà Nội) cho biết, đánh giá tình trạng này ở trẻ cần dựa trên chỉ số khối cơ thể (BMI) theo tuổi và giới tính trên biểu đồ tăng trưởng, kết hợp đo vòng eo và thăm khám lâm sàng để xác định chính xác mức độ tích tụ mỡ nội tạng. Nguyên nhân khiến trẻ thừa cân, béo phì rất phức tạp, không đơn thuần do ăn nhiều mà chịu tác động từ di truyền, nội tiết, môi trường sống và thói quen sinh hoạt. Chế độ ăn giàu thực phẩm chế biến sẵn, đồ ăn nhanh, đồ uống có đường nhưng thiếu rau xanh; thói quen ít vận động, dành nhiều thời gian trước màn hình điện tử đều làm tăng nguy cơ tích tụ mỡ dư thừa. Bên cạnh đó, một số yếu tố từ thai kỳ, tiền sử gia đình, rối loạn nội tiết, hội chứng di truyền hoặc tác dụng phụ của thuốc cũng liên quan trực tiếp đến tình trạng này.
Nếu kéo dài, béo phì sẽ gây ra những hệ lụy nặng nề cho cả thể chất lẫn tinh thần của trẻ. Về mặt sức khỏe, trẻ phải đối mặt với nguy cơ tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường type 2, gan nhiễm mỡ và các bệnh lý cơ xương khớp do hệ khung xương non nớt phải chịu áp lực trọng lượng lớn. Về mặt tâm lý, trẻ dễ gặp khó khăn do tự ti, bị bạn bè kỳ thị hoặc bắt nạt, gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học tập và chất lượng cuộc sống, đồng thời có nguy cơ cao tiếp tục bị béo phì khi trưởng thành. Do đó, phụ huynh nên chủ động đưa trẻ đi khám khi thấy con tăng cân nhanh bất thường, BMI vượt ngưỡng theo tuổi, ít vận động, chế độ ăn mất cân đối hoặc gia đình có tiền sử mắc bệnh chuyển hóa, nội tiết.
Theo nghiên cứu Action Việt Nam, những người thừa cân hoặc béo phì đang phải đối mặt với sự kỳ thị rất lớn từ xã hội. 79% người béo phì gặp những trở ngại liên quan đến công việc cần ngoại hình, 62% người béo phì có xu hướng bị trêu chọc hoặc phân biệt, 54% người béo phì bị cho rằng, họ béo phì là do họ lười biếng. Trong khi đó, người thừa cân béo phì thường mất 2-5 năm loay hoay tự tìm cách quản lý cân nặng và sức khỏe trước khi tìm đến bác sĩ, chuyên viên y tế.
Để phòng ngừa và kiểm soát hiệu quả, cha mẹ cần xây dựng cho trẻ chế độ ăn cân đối, hạn chế tối đa đồ ăn nhanh và nước ngọt, tăng cường rau xanh, trái cây và ngũ cốc nguyên hạt. Trẻ cần được khuyến khích vận động thường xuyên, giảm thời gian sử dụng thiết bị điện tử, ngủ đủ giấc và được theo dõi chiều cao, cân nặng định kỳ. Đối với trẻ nhỏ, WHO khuyến nghị nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho bú đến 2 tuổi hoặc lâu hơn kết hợp ăn bổ sung hợp lý. Việc phát hiện và quản lý béo phì sớm thông qua điều chỉnh dinh dưỡng và lối sống là giải pháp quan trọng giúp trẻ phát triển toàn diện và ngăn ngừa bệnh mạn tính về sau.
Mỗi người cần chủ động xây dựng cho mình một lối sống lành mạnh, ăn uống khoa học, tập luyện thể chất đều đặn và giữ cho tinh thần luôn lạc quan, yêu đời.