Ẩn số thế đất xây đền Bà Triệu (1)

Ðền và Miếu Bà Triệu - một địa danh lịch sử và văn hóa lớn quốc gia, nơi ghi dấu chiến công của Nữ anh hùng dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Ðịa danh này thuộc thôn Phú Ðiền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Nơi đây đã có những giai thoại về tên Triệu Ẩu, núi đá biết nói... Ngoài ra, nơi đây cũng có nhiều câu hỏi được đặt ra với mong muốn được giải thích trên cơ sở khoa học như: Tại sao Miếu và Ðền Bà Triệu lại được xây dựng tại chính nơi đây? Di tích dòng sông Âu có ý nghĩa gì đối với di tích lịch sử quốc gia này? 

Nguồn cuội của tên Triệu Ẩu
Từ Hà Nội trên Quốc lộ 1A cách TP Thanh Hóa khoảng 18km chúng ta gặp Đền và Miếu Bà Triệu - một địa danh lịch sử và văn hóa lớn quốc gia; nơi ghi dấu chiến công của Nữ anh hùng dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Địa danh này thuộc thôn Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Miếu Bà Triệu nằm trên ngọn núi nhỏ và thấp có tên là Núi Tùng; còn Đền Bà Triệu nằm ở phía đối diện qua QL1A trên Núi Gai (Một ngọn núi trong dãy núi Bần thuộc huyện Hậu Lộc). 

Tiếp tục đi về hướng thành phố Thanh Hóa khoảng 1,5km, chúng ta sẽ qua ga Nghĩa Trang và một cống nhỏ bắc qua đường quốc lộ mang dấu tích của dòng sông Âu huyền thoại. Vậy Bà Triệu là ai? Tại sao Miếu và Đền Bà Triệu lại được xây dựng tại chính nơi này? Di tích dòng sông Âu có ý nghĩa gì đối với di tích lịch sử quốc gia này và hàng loạt các câu hỏi ập đến với những người đang đi tìm những bí mật của quá khứ lịch sử.

Tương truyền, Bà Triệu tên thật là Triệu Thị Trinh sinh ngày 2 tháng 10 năm Bính Ngọ (năm 226) tại một xóm nhỏ bên núi Quan Yên, quận Cửu Chân nay là làng Quan Yên, xã Định Công, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Núi Quan Yên nằm sát Ngã Ba Bông, nơi sông Chu hợp lưu với sông Mã. Bà còn có tên là Triệu Ẩu, mà theo nhiều tác giả đó là do người Trung Quốc thời trước vì căm giận đặt cho, với nghĩa "Ẩu" là "mụ". Bà là em ruột Triệu Quốc Đạt, một chức quan nhỏ "huyện lệnh" khi nước ta còn nằm dưới sự đô hộ của quân xâm lược Đông Ngô (thuộc giai đoạn Tam Quốc chí trong lịch sử Trung Quốc). 

Cổng tam quan đền Bà Triệu.
Cổng tam quan đền Bà Triệu. 

Vú dài ba thước, sinh lực dồi dào

Bà là người phụ nữ nông thôn có khuôn mặt đẹp, thân hình cao lớn, nở nang với đôi chân và đôi tay dài biểu hiện cho cái đẹp khoẻ mạnh, phóng khoáng, thông minh; mang sắc hương đồng nội của người phụ nữ Việt Nam. Sử sách thời xưa còn ghi Bà có vú dài ba thước để nhấn mạnh đến vẻ đẹp nữ tính theo quan niệm người xưa, chứa đựng một nguồn sinh lực dồi dào. Sinh ra trong gia đình có thế lực trong vùng, nên từ nhỏ bà đã được luyện tập tinh thông các môn võ nghệ, cách bài binh bố trận và sử dụng cung kiếm; nên không cam chịu sống theo số phận thông thường của người phụ nữ cùng trang lứa.

Không chịu được chính sách hà khắc của quan quân Đông Ngô và những hành động tàn ác của đạo quân xâm lược người Tầu, năm 248 Bà cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt lãnh đạo nghĩa quân khởi nghĩa đánh chiếm quận lỵ quận Cửu Chân. Triệu Thị Trinh với câu nói nổi tiếng đã thuyết phục anh trai mình gác việc riêng để tham gia nghĩa quân: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp ngọn sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, cởi ách nô lệ cho nhân dân chứ quyết không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người ta". Lúc đầu căn cứ của nghĩa quân là Núi Nưa thuộc huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Khi Triệu Quốc Đạt không may bị cảm mà qua đời, căn cứ nghĩa quân chuyển về núi Tùng thuộc làng Phú Điền, xã Triệu Lộc,  huyện Hậu Lộc ngày nay.(Còn nữa)TIN BÀI LIÊN QUAN BÀI ĐANG ĐỌC NHIỀU

Đọc nhiều nhất

Tin mới