Nhà khoa học lỗi lạc, GS.VS Nguyễn Văn Hiệu: 'Đất nước cần gì thì làm cái đó'

GS.VS Nguyễn Văn Hiệu là nhà khoa học xuất sắc của Việt Nam. Ông còn là một chính trị gia, nhà lãnh đạo, quản lý khoa học tài ba của đất nước.

GS.VS Nguyễn Văn Hiệu là Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học ngành vật lý lý thuyết và vật lý toán học lỗi lạc của Việt Nam. Ông cũng đã trực tiếp đào tạo nên nhiều thế hệ vật lý lý thuyết của Việt Nam trong nửa cuối của thế kỉ 20 và đầu thế kỉ 21.

Không những là một nhà khoa học xuất sắc của Việt Nam, ông còn là một chính trị gia, nhà lãnh đạo, quản lý khoa học tài ba của đất nước.

gs-nguyen-van-hieu-5.jpg
GS. VS. Nguyễn Văn Hiệu trưởng đoàn cán bộ Viện Khoa học Việt Nam sang thăm và làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu khoa học Viễn Đông thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Ảnh: VAST.

Coi khoa học là sự nghiệp suốt đời

Nói về yếu tố quan trọng nhất để có được thành công trong nghiên cứu khoa học, trong một chia sẻ với báo chí, GS.VS Nguyễn Văn Hiệu nhấn mạnh, đó là phải có niềm đam mê! Phải coi nghiên cứu khoa học là sự nghiệp của mình. Và đôi khi, để đạt được điều đó, phải trả giá bằng những hy sinh.

“Tôi xin nói với bạn, không có vinh quang nào mà không có mất mát kèm theo, đôi khi cũng phải chịu hy sinh để đạt được đam mê của mình. Riêng ở lĩnh vực khoa học, đầu tiên là cần đi vào hướng nghiên cứu rất hiện đại và thứ hai là hướng nghiên cứu mà đất nước rất cần, nghĩ xem đất nước cần cái gì thì làm cái đó”, ông chia sẻ.

GS.VS Nguyễn Văn Hiệu là người coi khoa học là sự nghiệp suốt đời. Số công trình khoa học của ông lên tới trên 200, trải rộng trên nhiều lĩnh vực, từ tương tác yếu và đối xứng của các hạt cơ bản, đến lý thuyết giải tích về tương tác mạnh và lý thuyết trường, rồi phương pháp lý thuyết trường lượng tử trong vật lý chất rắn. Hầu hết số công trình đó đều được công bố trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế có uy tín.

Khi ở tuổi 70, GS.VS. Nguyễn Văn Hiệu vẫn tràn đầy nhiệt huyết cho nhiều kế hoạch lớn và đang truyền nhiệt huyết của mình cho một thế hệ các nhà khoa học mới đang hăng say học tập, nghiên cứu để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học và công nghệ mới: Khoa học và công nghệ nano.

Viện sĩ Markov từng nói về GS.VS Nguyễn Văn Hiệu: “...Thỉnh thoảng, người ta may mắn trong công việc khi tình cờ khám phá ra một ý tưởng thiên tài, mang lại những kết quả đột phá, giống như việc tìm thấy một mỏ vàng. Tuy nhiên, Nguyễn Văn Hiệu đã đi theo con đường riêng của mình... Anh đã thu được những thành tựu ngạc nhiên thông qua lao động không mệt mỏi và trí tuệ phi thường. Viện Dubna đã cung cấp cho anh một môi trường nghiên cứu lý tưởng. Những thành công còn lại đều dựa trên sự cống hiến và phẩm chất cá nhân của anh. Nguyễn Văn Hiệu, không còn nghi ngờ gì nữa, là một nhà khoa học lớn”.

Bên cạnh nghiên cứu cơ bản, GS.VS Nguyễn Văn Hiệu còn quan tâm đến việc đưa khoa học phục vụ đời sống. Ông có đóng góp quan trọng trong việc tổ chức đưa cây thanh hao hoa vàng vào trồng đại trà tại các tỉnh miền núi phía Bắc, tạo nguồn nguyên liệu sản xuất thuốc điều trị sốt rét quy mô công nghiệp, phục vụ người dân vùng sâu, vùng xa và đồng bào dân tộc thiểu số.

GS.VS Nguyễn Văn Hiệu cũng dành nhiều tâm huyết cho việc tập hợp và phát huy trí tuệ đội ngũ trí thức. Ông tích cực tham gia hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trên cương vị Ủy viên Đoàn Chủ tịch Hội đồng Trung ương, đồng thời là Chủ tịch Hội Vật lý Việt Nam trong nhiều năm.

Từ thợ phụ trong xưởng dệt kim tới vị tiến sĩ ở tuổi 25

Về cơ duyên đến với ngành Vật lý, ông kể, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, gia đình ông tản cư về một làng ở huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nhà nghèo nên ông dù tuổi còn nhỏ vẫn xin vào làm thợ phụ trong một xưởng dệt kim của một người đồng hương từ làng Cự Đà tản cư vào.

Ông chủ nhà mang theo một máy dệt, lần đầu tiên trong đời tôi được tiếp xúc với công nghệ. “Tôi thấy cái máy tuyệt vời quá, năng suất lao động cao gấp mấy trăm lần năng suất lao động của người đan áo bằng tay. Từ đó ước mơ một ngày nào đó, khi kháng chiến thắng lợi hoàn toàn, tôi sẽ xin vào học một trường đại học về kỹ thuật”, GS.VS Nguyễn Văn Hiệu kể lại.

gs-nguyen-van-hieu-4.jpg
GS.VS. Nguyễn Văn Hiệu phát biểu nhân dịp được trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh. Ảnh: VAST.

Năm 1953, ông học xong phổ thông. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên ông chọn thi và theo học vào Trường đại học Sư phạm khoa học vì học ngành sư phạm là được cấp học bổng.

Năm 1956, ông tốt nghiệp cử nhân Vật lý loại xuất sắc, sau đó trở thành cán bộ trẻ, giảng dạy tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội).

Năm 1958, một sự kiện, theo GS Nguyễn Văn Hiệu là “bước đột biến” trong cuộc đời ông, khi tại Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội, GS Tạ Quang Bửu giới thiệu với giảng viên các trường đại học về công trình vừa đoạt giải Nobel năm 1957 của hai nhà khoa học Mỹ gốc Trung Quốc là Dương Chấn Ninh và Lý Chính Đạo.

gs-nguyen-van-hieu-6.jpg
Lễ trao tặng bằng viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên xô cho đồng chí Nguyễn Văn Hiệu. Ảnh: VAST.

Chủ đề này lúc đó được tranh luận sâu rộng trong nhiều ấn phẩm khoa học của Liên Xô. Giảng viên Nguyễn Văn Hiệu lúc đó 20 tuổi, bị cuốn hút bởi sự hấp dẫn của vấn đề khoa học mới mẻ này. Ông đã gặp GS Tạ Quang Bửu bày tỏ mong muốn được người thầy của mình cung cấp tài liệu vấn đề thầy vừa thuyết trình.

“Sau khi đọc hết các tài liệu giáo sư cho, tôi quyết định nghiên cứu theo sự hướng dẫn của thầy”, ông chia sẻ.

Năm 1960, ông được cử sang làm việc tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna, Liên Xô (cũ), một trung tâm nghiên cứu vật lý nổi tiếng thế giới lúc bấy giờ. Ông theo đuổi cùng một lúc hai hướng nghiên cứu hiện đại bấy giờ là Neutrino và Tương tác mạnh.

Tháng 4/1963, ông bảo vệ luận án phó Tiến sĩ (nay là Tiến sĩ) khi chưa tròn 25 tuổi trong lĩnh vực Neutrino. Lúc ấy ông đã có 12 công bố khoa học về đề tài này.

Ngày 4 tháng 5 năm 1964, lần đầu tiên ở Liên Xô có một người bảo vệ tiến sĩ khoa học chỉ đúng một năm sau khi bảo vệ tiến sĩ, thậm chí là với hai lĩnh vực nghiên cứu hoàn toàn khác nhau.

gs-nguyen-van-hieu-2.jpg
Lễ trao bằng Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nước CHDC Đức cho GS.VS Nguyễn Văn Hiệu (người ngoài cùng bên phải). Ảnh: VAST.

Năm 1969, GS.VS Nguyễn Văn Hiệu trở về nước khi Chính phủ đang xúc tiến xây dựng các tổ chức nghiên cứu khoa học đầu tiên. Được Thủ tướng Phạm Văn Đồng trực tiếp giao trọng trách Viện trưởng Viện Vật lý - một trong hai viện đầu tiên của Viện Khoa học Việt Nam - đồng thời là thành viên Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, ông trở thành viện trưởng trẻ tuổi nhất trong lịch sử khoa học Việt Nam.

GS.VS Nguyễn Văn Hiệu còn là một nhà tổ chức khoa học có tầm nhìn chiến lược. Năm 1970, tại Hội nghị Vật lý quốc tế ở Kiev, những kết quả nghiên cứu của ông cùng Viện sĩ Anatoly Logunov đã gây tiếng vang lớn trong giới khoa học. Dù được khuyến khích tiếp tục nghiên cứu tại Liên Xô với nhiều triển vọng phát triển sự nghiệp, ông lựa chọn ở lại Việt Nam để xây dựng Viện Vật lý và đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học trẻ.

gs-nguyen-van-hieu-7.jpg
GS.VS. Nguyễn Văn Hiệu chụp ảnh lưu niệm với GS.VS Trần Đại Nghĩa, vị Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Ảnh: VAST.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục được giao nhiều trọng trách quan trọng. Năm 1975, GS.VS Nguyễn Văn Hiệu được cử làm Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật miền Nam, tham gia xây dựng lực lượng khoa học - công nghệ tại khu vực phía Nam trong điều kiện còn nhiều khó khăn. Trở lại Hà Nội, ông lần lượt giữ các cương vị Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam và Giám đốc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia.

gs-nguyen-van-hieu-3.jpg
GS. VS. Nguyễn Văn Hiệu tại buổi làm việc với Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Viện Vật lý năm 1981.

Là người gắn bó với sự phát triển của khoa học và giáo dục nước nhà, GS.VS Nguyễn Văn Hiệu đặc biệt quan tâm đến công tác đào tạo nhân lực. Ông là Hiệu trưởng sáng lập Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội), đồng thời nhiều lần đề xuất cải cách chính sách đối với đội ngũ giáo viên, nhà khoa học. Từ rất sớm, ông đã nhấn mạnh yêu cầu cải cách tiền lương, coi đây là điều kiện quan trọng để thu hút và giữ chân nhân tài cho giáo dục và nghiên cứu khoa học.

GS.VS Nguyễn Văn Hiệu được trao tặng Giải thưởng Lênin về Khoa học và Kỹ thuật năm 1986, được Nhà nước Việt Nam tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về Khoa học và Kỹ thuật năm 1996, và nhiều giải thưởng khác. Năm 1982, Ông được bầu là Viện sỹ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô; Ông còn là Viện sỹ Viện Hàn lâm Khoa học Đức, Viện Hàn lâm Khoa học Tiệp Khắc và Viện Hàn lâm khoa học thế giới thứ ba. Ông là Chủ tịch Hội đồng Trung tâm Vật lý lý thuyết Châu Á-Thái Bình Dương nhiệm kỳ 2005-2010.

Bài viết nằm trong tuyến bài "Chân dung nhà khoa học" Hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Liên hiệp Hội Việt Nam, nhiệm kỳ 2026–2031.

GS.TSKH Phạm Thị Trân Châu: 'Tôi chưa bao giờ hết ham muốn học'

Nữ khoa học đầu tiên của Việt Nam nhận Giải thưởng Kovalevskaia, GS.TSKH. Phạm Thị Trân Châu chia sẻ, học tập là niềm đam mê, nhu cầu cuộc sống của bà.

GS.TSKH Phạm Thị Trân Châu là một trong những nhà khoa học hàng đầu về sinh hóa của Việt Nam trong thế kỷ XX. Bà là nhà nữ khoa học đầu tiên của Việt Nam nhận Giải thưởng Kovalevskaia (1988), giải thưởng khoa học cao quý dành cho các nhà khoa học nữ thuộc lĩnh vực Khoa học tự nhiên và Toán. Trên cương vị Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam, bà đã kết nối, tập hợp sức mạnh của đội ngũ nữ trí thức Việt Nam, góp phần phát triển kinh tế tri thức của đất nước.

pham-thi-tran-chau.jpg
GS.TSKH. Phạm Thị Trân Châu. Ảnh: PNM.

Bà Hà Hoàng Yến giữ chức Giám đốc Quỹ VIFOTEC

Ngày 15/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam công bố quyết định bổ nhiệm bà Hà Hoàng Yến giữ chức Giám đốc Quỹ VIFOTEC.

Ngày 15/6, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị công bố quyết định về công tác cán bộ đối với Quỹ Hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC).

Dự hội nghị có GS.VS Đặng Vũ Minh, Chủ tịch danh dự Liên hiệp Hội Việt Nam; TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam, Chủ tịch Quỹ VIFOTEC; lãnh đạo Văn phòng, các ban thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam; các thế hệ lãnh đạo, cán bộ Quỹ VIFOTEC cùng đại diện một số đơn vị trực thuộc.

GS.TS Nguyễn Thị Lang: Người 'đánh thức' gen lúa hoang, nâng tầm gạo Việt

GS.TS Nguyễn Thị Lang là nhà khoa học nữ đầu tiên nhận giải Trần Đại Nghĩa và vừa được vinh danh nữ trí thức tiêu biểu cho những cống hiến.

GS.TS Nguyễn Thị Lang sinh ra trong một gia đình làm nông ở Bến Tre. Bà là một trong những nhà khoa học nghiên cứu nguồn gen và tạo giống cho cây lúa. Bà đã vinh dự là nhà khoa học nữ đầu tiên được trao giải thưởng Trần Đại Nghĩa vào năm 2019. Bà cũng vừa được vinh danh tại Lễ biểu dương Nữ trí thức tiêu biểu năm 2026 vì những đóng góp lớn lao.

nguyen-thi-lang.jpg
GS.TS Nguyễn Thị Lang. Ảnh: VAST.

Đọc nhiều nhất

Tin mới

VUSTA thúc đẩy hợp tác khoa học và giáo dục Việt Nam-Tatarstan

VUSTA thúc đẩy hợp tác khoa học và giáo dục Việt Nam-Tatarstan

Chiều 08/06, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) cùng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) đã có cuộc làm việc, trao đổi trực tuyến với Bộ Giáo dục và Khoa học Cộng hòa Tatarstan (Liên bang Nga) cùng đại diện nhiều viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu của Tatarstan nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục đào tạo.