GS.TS Nguyễn Thị Lang sinh ra trong một gia đình làm nông ở Bến Tre. Bà là một trong những nhà khoa học nghiên cứu nguồn gen và tạo giống cho cây lúa. Bà đã vinh dự là nhà khoa học nữ đầu tiên được trao giải thưởng Trần Đại Nghĩa vào năm 2019. Bà cũng vừa được vinh danh tại Lễ biểu dương Nữ trí thức tiêu biểu năm 2026 vì những đóng góp lớn lao.
Tìm gene quý trong những đám lúa mọc hoang
Một trong những dấu ấn nổi bật trong sự nghiệp nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Thị Lang là công trình nghiên cứu, bảo tồn và khai thác nguồn gen lúa hoang dại, thường được gọi là “lúa ma”, tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Xuất phát từ trăn trở những giống lúa ngày xưa cho cơm ăn rất ngon, sao giờ lại mất, bà nung nấu quyết tâm đi tìm nguồn gen của lúa. Từ cuối những năm 1990, cùng với GS.TS Bùi Chí Bửu, bà dành nhiều thời gian khảo sát, thu thập và nghiên cứu các quần thể lúa hoang trong nước cũng như nhiều nguồn gen từ nước ngoài. Đây được xem là nguồn vật liệu di truyền quý giá phục vụ công tác chọn tạo giống lúa mới.
Theo GS.TS Nguyễn Thị Lang, trên thế giới hiện ghi nhận 26 loài lúa hoang dại. Việt Nam có bốn quần thể chính gồm Oryza officinalis, Oryza rufipogon, Oryza nivara và Oryza granulata. Trong đó, Oryza officinalis được tìm thấy ở khu vực Đông Nam Bộ. Loài này có nguồn gen kháng rầy nâu tốt, được đánh giá có tiềm năng phục vụ lai tạo các giống lúa kháng sâu bệnh.
Oryza rufipogon phân bố từ Bắc vào Nam, trong đó Vườn quốc gia Tràm Chim là một trong những khu vực bảo tồn quan trọng tại Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu cho thấy loài này mang nguồn gen kháng rầy nâu và rầy lưng trắng khá tốt.
Đối với Oryza granulata, dù hiện không còn được ghi nhận trong tự nhiên tại khu vực Mường Tè (Lai Châu), nguồn gen của loài này vẫn được bảo tồn tại Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long để phục vụ nghiên cứu.
Từ năm 1998, GS.TS Nguyễn Thị Lang và GS.TS Bùi Chí Bửu tập trung nghiên cứu lai tạo các giống lúa mới sử dụng nguồn vật liệu từ lúa hoang. Ngoài các quần thể lúa ma trong nước, nhóm nghiên cứu còn khai thác nguồn gen từ Lào, Úc, châu Phi và nhiều quốc gia khác để lai với các giống lúa thơm, lúa chất lượng cao của Việt Nam, Thái Lan và Ấn Độ.
Tại Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long, nhà lưới số 5 là nơi lưu giữ hàng trăm mẫu vật lúa hoang được sưu tập qua nhiều năm nghiên cứu. Các nhà khoa học Nhật Bản từng gọi đây là “bảo tàng lúa ma” của Việt Nam.
Chính từ những nguồn vật liệu di truyền được bảo tồn và nghiên cứu tại đây, GS.TS Nguyễn Thị Lang cùng các cộng sự đã tạo nền tảng cho nhiều chương trình chọn tạo giống lúa mới, góp phần nâng cao khả năng chống chịu sâu bệnh, thích ứng với điều kiện bất lợi của môi trường và phục vụ sản xuất lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Hơn 25 năm gắn bó với công tác chọn tạo giống, GS.TS Nguyễn Thị Lang đã tham gia lai tạo thành công 103 giống lúa, trong đó có 45 giống lúa đã được Bộ NN-PTNT công nhận và đưa vào sản xuất tại các tỉnh ĐBSCL, hơn 100 giống lúa được đánh giá là triển vọng và đang trong quá trình khảo nghiệm cấp quốc gia. góp phần nâng cao chất lượng hạt gạo Việt Nam và phục vụ mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực.
Khoa học không có điểm dừng
Trong suốt hành trình nghiên cứu của mình, GS.TS Nguyễn Thị Lang luôn cho rằng khoa học là sự kết hợp giữa kế thừa và sáng tạo.
Theo bà, nếu không biết kế thừa những tinh hoa của quá khứ thì khó có thể tạo ra những giá trị mới cho hiện tại. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc kế thừa mà không sáng tạo, khoa học sẽ không đáp ứng được những yêu cầu mới của thực tiễn đang không ngừng thay đổi.
Với nữ giáo sư, nghiên cứu khoa học không có điểm dừng. Mỗi nguồn vật liệu di truyền đều có những giá trị riêng cần được tiếp tục khai thác.
Bà nhớ lại thời gian học tập ở nước ngoài, có những giống lúa cho năng suất không cao nhưng lại mang nhiều đặc tính quý. Theo bà, trong nghiên cứu giống cây trồng không nên chỉ nhìn vào năng suất mà cần đánh giá đầy đủ những giá trị khác của giống.
Giống lúa Khao Dawk Mali của Thái Lan là một ví dụ. Dù nhiều tổ hợp lai gặp khó khăn, giống lúa này vẫn được đánh giá cao bởi phẩm chất gạo, hương thơm đặc trưng và khả năng chịu khô hạn tốt. Theo GS.TS Nguyễn Thị Lang, đó là những đặc tính rất đáng để khai thác phục vụ công tác chọn tạo giống.
Và đặc biệt, phải cần tình yêu với công việc mình làm. Từ khi rời quê Bến Tre lên Cần Thơ lập nghiệp, bà bắt đầu sưu tầm và lưu giữ các nguồn gen thực vật. Hễ gặp một nguồn gen lạ hoặc một giống cây có giá trị, bà đều tìm cách mang về bảo tồn. Bởi đây là công việc bà yêu thích.
Không chỉ các giống lúa đang được sản xuất, nhiều nguồn gen lúa hoang và những giống cây ít được chú ý cũng được bà lưu giữ để phục vụ nghiên cứu lâu dài.
Sau khi chọn tạo được giống mới, bà tiếp tục tìm cách đưa giống vào thực tiễn sản xuất. Nhiều năm qua, nữ giáo sư đã trực tiếp làm việc với các địa phương để khảo nghiệm giống. Có những nơi được giới thiệu hàng chục giống lúa nhưng cuối cùng chỉ lựa chọn một hoặc hai giống phù hợp với điều kiện canh tác.
Thậm chí, có thời điểm bà hỗ trợ giống cho nông dân mà không thu phí, đồng thời trực tiếp xuống đồng cùng bà con gieo sạ và chăm sóc ruộng lúa để đánh giá hiệu quả sản xuất.
Đến nay, GS.TS Nguyễn Thị Lang đang bảo tồn khoảng 2.000 nguồn giống khác nhau. Bà đang phụ trách một dự án do Quỹ VinFuture tài trợ, tập trung nghiên cứu và phát triển các giống lúa thích ứng với điều kiện khí hậu khắc nghiệt tại Đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh khả năng chống chịu hạn hán, xâm nhập mặn và sâu bệnh, điều bà quan tâm là làm thế nào để nâng cao giá trị hạt gạo và cải thiện thu nhập cho người trồng lúa.
Sau nhiều năm gắn bó với cây lúa, mong muốn lớn nhất của nữ giáo sư vẫn là giúp người nông dân nâng cao thu nhập từ chính nghề trồng lúa của mình. “Tôi luôn mong làm sao nâng cao được thu nhập cho bà con trồng lúa”, bà chia sẻ.
Những đóng góp của GS.TS Nguyễn Thị Lang đối với lĩnh vực nghiên cứu và chọn tạo giống lúa đã được ghi nhận bằng nhiều phần thưởng, danh hiệu cao quý. Bà được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì và Huân chương Lao động hạng Ba; nhận Giải thưởng Phụ nữ sáng tạo của Bộ Khoa học và Công nghệ với các công trình về giống lúa thơm, chịu ngập OM8928 và giống lúa chịu mặn OM6328. Ngoài ra, nữ giáo sư còn được trao Giải thưởng Kovalevskaia (KOVA), Giải thưởng L'Oréal – UNESCO Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học, Giải thưởng Bông lúa vàng cùng hàng chục bằng khen, giấy khen của các bộ, ngành và địa phương.