Đất nước chúng ta đã trải qua những chặng đường phát triển vượt bậc, nhưng lịch sử ngành công nghiệp nặng nói chung và ngành Đúc - Luyện kim nói riêng sẽ luôn ghi nhớ công lao của những người tiên phong. Nhân dịp kỷ niệm 115 năm ngày sinh Kỹ sư Võ Quý Huân và 80 năm ngày Bác Hồ đưa 4 trí thức Việt kiều đầu tiên từ Pháp trở về phụng sự Tổ quốc (1946 - 2026), cùng nhìn lại hành trình cống hiến đầy tự hào của người kỹ sư "nặng tình non nước".
Tên của ông đã được đặt cho một số tuyến phố, trong đó có Hà Nội nhằm tưởng nhớ, tri ân những cống hiến to lớn của ông cho nền công nghiệp nước nhà.
Người "kỹ sư nặng tình non nước”, từ bỏ vinh hoa trở về phụng sự Tổ quốc
Theo tư liệu của BCH Hội Đúc Luyện kim Hà Nội cung cấp cho PV Báo Tri thức và Cuộc sống, Kỹ sư Võ Quý Huân sinh ngày 7/11/1911 tại Đà Nẵng, quê gốc ở Thanh Tùng, Thanh Chương, Nghệ An, lớn lên trong một gia đình giáo học.
Ông vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1947. Năm 1935 sau khi tốt nghiệp tú tài, ông tham gia phong trào Bình dân và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ báo “Đông Dương hoạt động” (L’Activité Indochinoise) xuất bản bằng 3 thứ tiếng Hán Việt–Pháp ở Vinh. Vì tờ báo đề cao tinh thần yêu nước, bảo vệ người lao động nên bị chính quyền thực dân Pháp đóng cửa và ông phải trốn sang Pháp.
Tại Pháp năm 1937 ngoài việc học, trong hoàn cảnh rất khó khăn, ông vừa học vừa làm và tiếp tục hoạt động trong cộng đồng người Việt. Tiếp thu được nền đào tạo kỹ thuật tại Pháp, ông đã đạt ba bằng kỹ sư: Cơ - điện; Đúc - luyện kim; Kỹ nghệ chuyên nghiệp.
Sau khi tốt nghiệp kỹ sư Cơ - điện ông được tuyển dụng vào làm Hãng tàu thủy của Pháp chuyên chạy tuyến đường biển Pháp – Mỹ giữ cương vị quản trị máy, rồi ông chuyển sang làm việc cho Hãng máy bay Potez và được đề bạt làm kỹ sư trưởng chuyên về máy chế tạo động cơ, máy nổ.
Năm 1939 ông là Đảng viên ĐCS Pháp và tham gia Tổng công đoàn Pháp (CGT) làm thư ký Hội Pháp–Việt Hữu nghị và là Phó chủ tịch Hội Ái hữu Việt kiều ta tại Pháp. Để nâng cao trình độ chuyên môn ông theo học và làm luận án tiến sĩ tại Đại học Sorbonne về ngành Cơ lý học (còn 1 năm nữa tốt nghiệp, ông tạm dừng để về nước theo lời đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946).
Mùa hè năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm hữu nghị chính thức nước Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp cùng đoàn Chính phủ Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn sang dự Hội nghị Fontainebleau.
Trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn dự hội nghị, kỹ sư Võ Quý Huân đã tổ chức đón Bác Hồ và tích cực tham gia giúp đỡ phái đoàn như tổ chức các cuộc họp, mít tinh ủng hộ Việt Nam cũng như làm hậu thuẫn tăng sức mạnh cho phái đoàn ta tham dự Hội nghị. Kết quả hoạt động và công việc của ông được phái đoàn đánh giá cao. Kỹ sư Võ Quý Huân đã được Bác chọn về nước cùng với Bác năm 1946.
Khi ấy Kỹ sư Võ Quý Huân mới 34 tuổi, ông đang có gia đình ở Pháp, vợ và con nhỏ, đồng thời đang có điều kiện nghề nghiệp tốt. Nhưng ông quyết định trở về Việt Nam khi đất nước đang đứng trước cuộc chiến tranh. Trước khi về Việt Nam Kỹ sư Võ Quý Huân đã có một sự nghiệp kỹ thuật khá vững chắc ở Pháp.
Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa sau này kể lại: Kỹ sư Võ Quý Huân phải xa vợ trẻ, con thơ để về nước, ông đã gọi đó là người "Kỹ sư nặng tình non nước".
"Cha đẻ" của những mẻ gang lò cao đầu tiên trong lòng kháng chiến
Theo Hội Đúc Luyện kim Hà Nội, kỹ sư Võ Quý Huân là kỹ sư luyện kim đầu tiên được đào tạo bài bản từ nền khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện đại, một trí thức Việt kiều được Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa về nước năm 1946. Ông được mệnh danh là cha đẻ của lò cao kháng chiến và là người thực hiện công nghệ luyện kim của Việt Nam theo phương thức kỹ thuật hiện đại của châu Âu lúc bấy giờ.
Về nước, kỹ sư Võ Quý Huân được cử làm Chánh văn phòng Bộ Kinh tế. Tháng 4/1947, Võ Quý Huân được tổ chức phân công làm Giám đốc Sở Khoáng chất Trung bộ, Tổng thư ký Hội đồng sản xuất kỹ nghệ khu IV.
Khi toàn quốc kháng chiến, kỹ sư Võ Quý Huân được giao nhiệm vụ di chuyển các nhà máy ở Vinh để thành lập các công binh xưởng phục vụ kháng chiến trong đó có công binh xưởng 3KC ở Cầu Đất. Ông đã thành lập Trường Cán bộ kỹ thuật Trung bộ (năm 1947) đầu tiên của nước Việt Nam DCCH tại Thanh Chương Nghệ An để đào tạo lớp cán bộ kỹ thuật công nghiệp đầu tiên cho đất nước phục vụ kháng chiến. Ông làm Hiệu trưởng và trực tiếp giảng dạy.
Ông được giao nhiệm vụ nghiên cứu, thí nghiệm, xây lò cao sản xuất gang phục vụ kháng chiến và trực tiếp thiết kế lò cao luyện gang đầu tiên 3KC1 tại vùng Cầu Đất, Con Cuông, Nghệ An và sau này là lò cao 3KC2. Ông cũng là người đào tạo và hướng dẫn thiết kế lò cao NX1, NX2 sau đó.
Ngày 15/11/1948 mẻ gang đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được luyện từ quặng sắt Vân Trình đã được tháo ra, đánh dấu mốc khởi đầu của lĩnh vực luyện kim theo hướng kỹ thuật hiện đại. Đây là một thành tựu kỹ thuật rất đáng kính trọng.
Bây giờ để xây dựng một lò cao hay một nhà máy gang thép thì đã có sự trợ giúp đầy đủ về phương tiện, kỹ thuật hỗ trợ. Hãy hình dung khi kỹ sư Võ Quý Huân thiết kế và xây dựng lò cao đầu tiên khi trong tay không có các điều kiện đáp ứng: không có một nhà máy hiện đại hỗ trợ kỹ thuật, không có thiết bị nhập khẩu, không có phòng thí nghiệm đầy đủ, thiếu đội ngũ nhân lực kỹ thuật; tuy nhiên bằng tài năng của mình ông đã xây dựng ngành luyện kim trong điều kiện kháng chiến.
Nhìn dưới góc độ kỹ thuật luyện kim công trình mà ông đã thực hiện thành công, không đơn giản là xây dựng, chế tạo một lò cao mà ông đã phải giải quyết toàn bộ các vấn đề, gồm: nguyên liệu: Quặng, than cốc, trợ dung; Thiết bị: chế tạo, lắp đặt được thiết bị chính là lò cao, luyện ra gang. Ngoài ra còn có các thiết bị phụ trợ: Quạt gió, cung cấp gió nóng... cũng như các vật liệu chịu lửa.
Đặc biệt, một vấn đề quan trọng nữa là đã đào tạo đội ngũ nhân lực có thể đảm đương được kỹ thuật luyện kim, vận hành thiết bị.
Người Pháp khi đó đã rất lo sợ nên cố ném bom để nhằm phá hủy công trình nhưng không thể đạt được mục đích.
Tầm nhìn chiến lược cho sự phát triển ngành Công nghiệp nặng
Sau năm 1954, ông được giao làm Hiệu trưởng Trường Trung cấp Kỹ thuật I Hà Nội. Ông trực tiếp xây dựng chương trình, giáo trình và đào tạo cán bộ kỹ thuật. Một đóng góp rất lớn khác của kỹ sư Võ Quý Huân là đào tạo thế hệ luyện kim đầu tiên. Nhiều học trò của ông sau này trở thành những cán bộ chủ chốt của ngành Đúc – luyện kim Việt Nam.
Những ý kiến sau này của ông trong lĩnh vực luyện kim thể hiện sự trăn trở, mong muốn xây dựng được một nền luyện kim gang thép tiếp cận hiện đại của thế giới cho đất nước.
Ông đã đề xuất xây lò cao 350 m3 thay cho việc xây lò cao 100 m3, đầu tư lò cao dung tích lớn kết hợp với lò thổi luyện thép thay thế cho lò bằng (lò Martin) phù hợp với xu thế của thế giới. Đưa sản xuất các hợp kim ferro để đáp ứng nhu cầu. Ông cũng đề xuất việc tổ chức sản xuất thép hợp kim phục vụ cho ngành chế tạo máy.
Ông cũng là một trong những người sáng lập Hội Đúc – Luyện kim Việt Nam (nay là Hội KHKT Đúc - Luyện kim Việt Nam).
Ông đã tổ chức thành công Hội nghị Đúc Gang - đồng toàn Miền Bắc (lần thứ nhất năm 1959), được nhiều lãnh đạo nhà nước tham dự và đánh giá cao.
Ông làm tổ trưởng Tổ luyện kim Ủy ban khoa học Nhà nước (1959-1967) và là Ủy viên BCH Trung ương Hội Phổ biến khoa học kỹ thuật Việt Nam.
Kỹ sư Võ Quý Huân mất cuối tháng 9/1967, khi mới 55 tuổi, sau một thời gian bị bệnh nặng.
Trò chuyện với Báo Tri thức và Cuộc sống, kỹ sư Phạm Bá Kiêm, Phó Chủ tịch Hội Đúc - Luyện kim Hà Nội, GĐ Trung tâm công nghệ Kim loại cho hay, ngày nay đất nước đã có ngành Công nghiệp gang thép hiện đại với bao nguồn lực mạnh mẽ. Những người trong ngành luyện kim đều ghi nhận công lao to lớn trong việc đặt những viên gạch đầu tiên, xây nên nền công nghiệp gang thép nói riêng và luyện kim nói chung cho đất nước của kỹ sư Võ Quý Huân.
“Gọi ông là người đóng vai trò trụ cột đặt nền móng cho ngành luyện kim Việt Nam theo hướng hiện đại là hoàn toàn xứng đáng”, ông Kiêm đánh giá.
Bài viết nằm trong tuyến bài: "Những danh nhân trên biển tên đường phố", nhằm tôn vinh những trí thức lớn làm rạng danh đất nước và giúp thế hệ hôm nay hiểu thêm về cuộc đời, sự cống hiến của những danh nhân có tên trên những con phố quen thuộc mỗi ngày.