Quốc hội thông qua Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Sáng 23/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).

Theo đó, với 466/475 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (93,20%), Quốc hội đã thông qua Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).

Báo cáo về việc tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày cho thấy, dự thảo Luật đã được chỉnh lý toàn diện theo hướng bảo đảm yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật; tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc về tính hợp hiến, tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật.

7776.jpg
Các đại biểu biểu quyết thông qua Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).

Dự thảo Luật được hoàn thiện trên cơ sở bám sát quan điểm chỉ đạo lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, chuyển đổi mạnh mẽ tư duy, phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật từ cung cấp thông tin pháp luật một chiều sang kiến tạo, thiết lập môi trường, các điều kiện cần thiết, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận pháp luật; chuyển từ thụ động tiếp nhận sang chủ động tiếp cận, tìm hiểu, học mới, hiệu quả, ứng dụng công nghệ số, có tính tương tác đa chiều.

Liên quan đến nội dung chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phổ biến, giáo dục pháp luật, dự thảo Luật đã chỉnh lý, hoàn thiện chính sách của Nhà nước nhằm ưu tiên, khuyến khích thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, có chính sách phát triển nguồn nhân lực số, bồi dưỡng kỹ năng số cho người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách.

Đồng thời, dự thảo Luật đã được chỉnh lý tại Điều 13 nhằm khái quát địa vị pháp lý của Cổng Pháp luật quốc gia. Theo đó, Cổng Pháp luật quốc gia là nền tảng số quốc gia về pháp luật dùng chung cho các ngành, lĩnh vực; khuyến khích tổ chức, cá nhân thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua nền tảng số, mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo; bổ sung quy định về việc kiểm soát, kiểm chứng, quản lý chặt chẽ, hiệu quả việc phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua nền tảng số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Qua đó tạo cơ sở pháp lý đồng bộ bảo đảm cho việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách.

Về đối tượng đặc thù, trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp, đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn của Luật hiện hành, đồng thời thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị và Kết luận số 80-KL/TW của Ban Bí thư, dự thảo Luật đã bổ sung một số đối tượng mới như người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người cao tuổi, người chấp hành xong hình phạt tù đang tái hòa nhập cộng đồng.

Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Chính phủ đã bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 3 về chính sách của Nhà nước theo hướng tạo điều kiện cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài học tập, tìm hiểu pháp luật Việt Nam.

Về truyền thông chính sách, tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã chỉnh lý, hoàn thiện các quy định về phạm vi, nội dung, hình thức và thời điểm truyền thông chính sách, bảo đảm không trùng lặp, chồng chéo với quy định về truyền thông chính sách trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; góp phần nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, tạo đồng thuận xã hội, hỗ trợ hoạt động thi hành pháp luật khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành.

Đối với quy định về Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật, dự thảo Luật thống nhất việc thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã. Theo đó, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp xã nói riêng và các Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật từ Trung ương đến cấp xã đều hoạt động kiêm nhiệm, không phát sinh biên chế và bộ máy mới.

Để bảo đảm thống nhất quy định về nguồn lực, kinh phí, dự thảo Luật được tiếp thu, hoàn thiện theo hướng "ưu tiên kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù nhằm thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị và Kết luận số 80-KL/TW của Ban Bí thư về "ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù", bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) gồm 5 Chương, 39 Điều, quy định về quyền, nghĩa vụ, nội dung, hình thức, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân, các điều kiện bảo đảm phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách. Sau khi được thông qua, Luật sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/03/2027.

Quốc hội đã thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi)

Sáng 23/8, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi) năm 2026 với 473/475 đại biểu có mặt biểu quyết tán thành (tỷ lệ 94,6%).

Trước khi Quốc hội tiến hành biểu quyết, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng đã trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) trên cơ sở ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

87.jpg
Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).

Hôm nay, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến nhiều dự án luật, nghị quyết

Ngày 17/8, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục làm việc nhiều nội dung quan trọng liên quan đến việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý các dự án luật và nghị quyết.

Theo dự kiến chương trình, buổi sáng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng. Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành nội dung này.

202608141517181056-1786695498670-2162376588907177512-g3194982797251543164-cce6cc7fb469aaee990d8af67efa9f36.jpg
Phiên họp thứ 5 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ảnh: Quốc hội.

Kết luận của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam

Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Kết luận số 83-KL/TW, ngày 8/8/2026 về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam.

Sau đây là nội dung Kết luận số 83-KL/TW:

Trong những năm qua, ngành công nghiệp vật liệu ở Việt Nam đã từng bước phát triển, cơ bản đáp ứng nhu cầu về nhiều loại vật tư, nguyên liệu đầu vào cho nền kinh tế; đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo việc làm, tăng thu ngân sách và xuất khẩu; bước đầu nghiên cứu, sản xuất một số loại vật liệu mới, vật liệu xanh, vật liệu tái chế; dần khẳng định vai trò là một trong những ngành công nghiệp nền tảng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Đọc nhiều nhất

Tin mới