Hé mở chương trình hiện đại hóa tàu chiến Việt Nam

(Kiến Thức) - Các tàu chiến hệ cũ của Hải quân sẽ sớm được trang bị hệ thống dẫn đường thế hệ mới đáp ứng yêu cầu bảo vệ biển đảo Tổ quốc.

Việc ứng dụng công nghệ Định vị vệ tinh dẫn đường kết hợp với sử dụng hải đồ điện tử (ENC) cho lực lượng Hải quân và Cảnh Sát biển… của Việt Nam là hết sức mới mẻ. Tích hợp công nghệ Định vị vệ tinh dẫn đường hàng hải kết hợp với sử dụng ENC sẽ đáp ứng tốt hơn yêu chỉ huy tác chiến tập trung, hiệu quả; nâng cao khả năng cơ động; đảm bảo được độ chính xác; tiết kiệm thời gian, nhiên liệu; giúp cho các cán bộ, hoa tiêu, thuyền trưởng điểu khiển tàu hành trình trên sông, trên biển, cập bến, neo đậu dễ dàng, an toàn; nâng cao trình độ tác nghiệp và khả năng SSCĐ, đáp ứng kịp thời nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển.
Các tàu chiến thế hệ cũ của Hải quân Việt Nam sẽ sớm được tích hợp công nghệ dẫn đường hàng hải mới.
 Các tàu chiến thế hệ cũ của Hải quân Việt Nam sẽ sớm được tích hợp công nghệ dẫn đường hàng hải mới.
Hiện nay, các tàu mặt nước phục vụ hoạt động quân sự của Việt Nam sản xuất trong nước cơ bản đã được tích hợp công nghệ này, nhưng một lượng lớn các phương tiên cũ thì chưa được tích hợp, hoặc mới chỉ trang bị hệ thống định vị vệ tinh mà chưa có hải đồ điện tử. Cho nên, việc ứng dụng tích hợp công nghệ Định vị vệ tinh dẫn đường kết hợp với sử dụng ENC đối với các tàu quân sự của quân đội là hết sức cần thiết, là cơ sở để đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa trong quân đội, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Trên cơ sở ấy, vừa qua các nhà khoa học quân sự thuộc Phòng Trắc địa-Địa hình (Cục Bản đồ, Bộ Tổng tham mưu) đã nghiên cứu và thử nghiệm thành công đề tài khoa học: Tích hợp GPS/DGPS và phần mềm dẫn đường NaVISAILOR 4000/4100 dẫn đường cho tàu quân sự của Quân chủng Hải quân và Bộ tư lệnh Cảnh Sát biển. Theo Trung tá Trần Quốc Vinh (Cục Bản đồ), qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã lựa chọn hệ thống trang thiết bị phần cứng gồm: Máy tính của TranSas, máy GPS của Simrad và phần mềm dẫn đường Mavi Sailor 4000/4100 để lắp đặt cho các tàu quân sự.
Cán bộ Phòng Trắc địa-Địa hình (Cục Bản đồ, Bộ Tổng tham mưu) giới thiệu các thiết bị trong đề tài Tích hợp GPS/DGPS và phần mềm dẫn đường NaVISAILOR 4000/4100 dẫn đường cho tàu quân sự 22.
   Cán bộ Phòng Trắc địa-Địa hình (Cục Bản đồ, Bộ Tổng tham mưu) giới thiệu các thiết bị trong đề tài Tích hợp GPS/DGPS và phần mềm dẫn đường NaVISAILOR 4000/4100 dẫn đường cho tàu quân sự 22. 
Màn hình máy tính thể hiện hải đồ điện tử.
Màn hình máy tính thể hiện hải đồ điện tử.
Trung tá Trần Quốc Vinh cho biết thêm, giải pháp này tiết kiệm chi phí hơn so với mua sản phẩm cùng loại trên thị trường thế giới. Về kỹ thuật, hệ thống thiết bị lắp đặt cơ bản đáp ứng đầy đủ các tiêu chí kỹ thuật của ngành hàng hải nói chung và của lực lượng quân sự hoạt động trên biển nói riêng. Các trang thiết bị mới lắp đặt trên các tàu được tích hợp trong một hệ thống (máy tính, máy GPS/DGPS… ), hạn chế được sự tác động của môi trường khi hoạt động trên biển.
Một hệ thống dẫn đường hiện đại thường bao gồm: Hệ thống định vị (GPS), ra-đa (ARPA), la bàn (điện, con quay, hoặc từ), thiết bị đo lưu tốc (log), máy đo sâu (Enchosounder), hệ thống nhận dạng tự động (AIS), máy tính cài đặt phầm mềm dẫn đường và hải đồ điện tử, máy lái tự động (Autopilot), thiết bị đo gió. Các thiết bị này được kết nối với nhau và được điều khiển bằng phần mềm thông qua một hệ thống máy tính đến máy lái tự động.
Ở đây, các nhà khoa học đã chọn hệ thống máy tính có cấu hình cao, tốc độ xử lý nhanh và có thể cài đặt với nhiều hệ thống phần mềm dẫn đường, hệ thống hiển thị hải đồ điện tử ECDITS, cổng kết nối vào (ra) hợp lý theo tiêu chuẩn quốc tế và kết nối được các thiết bị (radar, la bàn điện tử, máy đo sâu, máy đo lưu tốc, thiết bị nhận dạng điện tử, máy in, máy fax, thiết bị lái tàu tự động…).
Máy GPS của Simrad.
 Máy GPS của Simrad.
Phần mềm Mavi Sailor 4000/4100 và hệ thống phần mềm điều khiển dẫn đường chuyên nghiệp với tính năng tích hợp tín hiệu thu GPS/DGPS để hiểm thị trên nền hải đồ điện tử phục vụ tốt cho định vị, dẫn đường hàng hải; có đầy đủ chức năng ưu việt nhất hiện nay như: Cảnh báo, giám sát, phát hiện những mối nguy hiểm trong quá trình đi biển (dạng hộp đen), lưu lại những thay đổi để cập nhật thêm dữ liệu mới, lập kế hoạch chạy tàu, điều khiển tàu tự động… Máy thu GPS/DGPS của hệ thống có ưu điểm là vừa được thu tín hiệu GPS từ Hệ thống vệ tinh GPS Navsta vừa thu được tín hiệu cải chính DGPS phát đi từ các trạm Cơ sở thường trực (phát đi tín hiệu cải chính DGPS) của Cục Bản đồ và tín hiệu cải chính từ vệ tinh, từ các hệ thống ở nhiều vị trí, khu vực khác nhau trên thế giới… Nhằm nâng cao độ chính xác, xác định vị trí của các tàu trên biển với độ chính xác đạt dưới 3m, đặc biệt là khi tàu đi trong luồng lạch và di chuyển trong điều kiện sóng to, gió lớn yêu cầu độ chính xác cao về vị trí để tránh va chạm.
Các thiết bị được tích hợp trên tàu hải quân.
 Các thiết bị được tích hợp trên tàu hải quân. 
Hải đồ dùng cho Hệ thống chủ yếu là hải đồ điện tử, thông tin của các đối tượng trên biển được mã hóa và hiển thị một cách trực quan trên màn hình, thân thiện với người sử dụng. Hơn nữa, các dữ liệu hải đồ điện tử được xây dựng theo chuẩn quốc tế (S-54, S-57, S-63, TX-79…), hoàn toàn đáp ứng yêu cầu về sử dụng và hợp tác quốc tế.
Như vậy, đề tài nghiên cứu Tích hợp GPS/DGPS và phần mềm dẫn đường NaVISAILOR 4000/4100 dẫn đường cho tàu quân sự mở ra một hướng mới cho việc bổ sung trang bị, góp phần hiện đại lượng lớn các tàu quân sự của Hải quân và Cảnh Sát biển làm nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, tuần tra, kiểm soát và trực dài ngày trên biển.

Việt Nam cải tiến phương pháp bảo dưỡng động cơ tàu chiến

Các nhà khoa học trẻ thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam đã nghiên cứu thành công giải pháp mới bảo dưỡng động cơ tua-bin trên tàu chiến.

Việt Nam cải tiến xe tăng-thiết giáp Trung Quốc thế nào?

Cuối năm 1977, việc bảo đảm mắt xích, bánh tỳ của hệ thống vận hành loại xe thiết giáp K63 và xe tăng K63-85 là nhu cầu rất cấp bách. 

Cuối năm 1977, việc bảo đảm mắt xích, bánh tỳ của hệ thống vận hành loại xe thiết giáp K63 (định danh của Việt Nam dành cho xe thiết giáp chở quân Type 63 của Trung Quốc) và xe tăng K63-85 (định danh của Việt Nam cho xe tăng hạng nhẹ Type 63 cũng của Trung Quốc) cho các đơn vị tăng-thiết giáp của Quân khu 7 và Quân khu 9 sẵn sàng bước vào chiến đấu trên chiến trường Tây Nam là một nhu cầu rất cấp bách. Nguồn viện trợ các chủng loại phụ tùng vật tư kỹ thuật này đã không còn, trong kho dự trữ của ta lúc đó đã cạn kiệt.
Trong tình hình khó khăn đó, Trung úy, Kỹ sư Phạm Văn Thiệp, Trợ lý Ban Nghiên cứu Kỹ thuật, Phòng Kỹ thuật (sau này đồng chí Phạm Văn Thiệp là Đại tá, Trưởng Phòng Nghiên cứu Kỹ thuật, Cục Kỹ thuật) Bộ Tư lệnh Binh chủng Thiết giáp (năm 1994 đổi thành Binh chủng Tăng-Thiết giáp) đã đề xuất giải pháp cải biên moay ơ bánh tỳ xe PT-76 của Liên Xô cho phù hợp với trục cân bằng xe K-63 và xe K63-85 của Trung Quốc và trên cơ sở đó lắp lẫn đồng bộ xích, bánh tỳ của xe PT-76 cho xe K63 và xe K63-85. Giải pháp được đề xuất trên cơ sở nghiên cứu cụ thể, kỹ lưỡng kết cấu các cụm, các chi tiết của hệ thống vận hành, chế độ tải trọng và tính năng thông qua của 3 loại xe này.
Giải pháp đã được Bộ Tư lệnh phê duyệt và cho mở đề tài “Nghiên cứu cải biên lắp lẫn bánh tỳ - xích xe tăng PT-76 của Liên Xô cho xe thiết giáp K63 và xe tăng K63-85 của Trung Quốc”. Đề tài do đồng chí Trung úy, Kỹ sư Phạm Văn Thiệp làm chủ nhiệm.
Xe thiết giáp K-63 lắp bánh tỳ và xích xe PT-76.
 Xe thiết giáp K-63 lắp bánh tỳ và xích xe PT-76.
Do đòi hỏi của chiến trường, đề tài đã được triển khai thực hiện gấp rút. Từ tháng 1 đến tháng 3/1978: nghiên cứu tính toán, thiết kế cải biên; từ tháng 4 đến tháng 6/1978: phối hợp với Nhà máy Z153 (Tổng cục Kỹ thuật) thực hành gia công cải biên moay ơ bánh tỳ; phối hợp với Xưởng X32 (Bộ Tư lệnh Binh chủng Thiết giáp) gia công cải biên nắp bánh tỳ, cụm bít chắn mỡ, bánh dẫn xích, vú tống chốt xích và sản xuất bộ bu lông đệm cố định; tháng 7/1978: phối hợp với Kho Y (Bộ Tư lệnh Binh chủng Thiết giáp) lắp ráp và chạy thử nghiệm.
Ngày 12/7/1978, Bộ Tư lệnh Binh chủng Thiết giáp đã tổ chức nghiệm thu đánh giá thực tế sản phẩm của đề tài này. Trung tá Phí Văn Hải, Chủ nhiệm Kỹ thuật Binh chủng Thiết giáp chủ trì buổi nghiệm thu ngay tại bãi lái Tam Lộng của Bộ Tư lệnh Binh chủng Thiết giáp. Sau đó Tư lệnh Binh chủng Thiết giáp Đào Huy Vũ đã quyết định đưa đề tài này vào ứng dụng cải biên loạt lớn và đưa các sản phẩm cải biên vào mặt trận biên giới Tây Nam.
Cuối tháng 8/1978, đồng chí Phạm Văn Thiệp, chủ nhiệm đề tài được Bộ Tư lệnh giao nhiệm vụ phụ trách áp tải bằng tàu hỏa 600 chiếc bánh tỳ PT-76 đã cải biên cùng 120 dải xích và các vật tư kỹ thuật tăng-thiết giáp khác vào kho kỹ thuật của Bộ Tư lệnh Binh chủng Thiết giáp tiền phương để cung cấp kịp thời cho chiến trường. Đồng chí Thiệp đã trực tiếp tổ chức lắp mẫu sản phẩm cải biên vào xe K-63 và K63-85 của Trung đoàn Thiết giáp 26/Quân khu 7 và Trung đoàn Thiết giáp 24 (Quân khu 9) làm cơ sở cho các đơn vị tự lắp lẫn hàng loạt nhanh chóng sẵn sàng tham gia chiến đấu.
Xe tăng hạng nhẹ Type 63 (Việt Nam gọi là K63-85) do Trung Quốc sản xuất. Phần thân xe khá giống với PT-76 của Liên Xô nhưng dùng kiểu tháp pháo khác với pháo lớn hơn - 85mm.
 Xe tăng hạng nhẹ Type 63 (Việt Nam gọi là K63-85) do Trung Quốc sản xuất. Phần thân xe khá giống với PT-76 của Liên Xô nhưng dùng kiểu tháp pháo khác với pháo lớn hơn - 85mm.
Trong chiến dịch tiến công giải phóng nhân dân Cam-pu-chia khỏi ách diệt chủng, rạng sáng ngày 7/1/1979 các xe tăng K63-85 lắp xích - bánh tỳ PT-76 trong đội hình chiến đấu của Trung đoàn Thiết giáp 24 (Quân khu 9) đã tiến vào sân bay Pô-chen-tông thuộc Thủ đô Phnôm Pênh. Còn các xe thiết giáp K63 trong đội hình chiến đấu của Trung đoàn Thiết giáp 26 (Quân khu 7) đã có mặt tham chiến tại tỉnh Công-pông-chàm.
Tháng 9/1982, với kết quả nghiên cứu chế thử được đưa vào ứng dụng loạt lớn bảo đảm kịp thời trang bị chiến đấu cho chiến trường, đề tài đã được Bộ Quốc phòng cấp bằng khen. Thời gian sau này và cho đến nay giải pháp sáng tạo của đề tài vẫn tiếp tục được Nhà máy Z153 áp dụng gia công cải biên để cung cấp và lắp đặt cho xe K63 và K63-85 trong toàn quân.
Đề tài là một giải pháp kỹ thuật sáng tạo và táo bạo, gia công phức tạp bởi khi lắp vào xe K-63 và xe K63-85, mỗi bánh tỳ mới phải chịu tải thêm 500kg trong điều kiện moay ơ phải khoét mỏng để tăng đường kính lỗ lắp ổ bi từ Φ130 lên Φ140mm; theo đó phải dịch chỉnh tâm ổ bi theo chiều trục phải phay 2 rãnh bơm mỡ thay thế và khoan ren các lỗ bu lông cố định mới nhưng vẫn bảo đảm độ tin cậy và độ bền lâu trong chế độ tải trọng khắc nghiệt đối với hệ thống vận hành xe tăng.
Đề tài đã giải quyết thành công bài toán thiết kế cải biên phức tạp trong đó việc chọn chế độ lắp ghép là yếu tố quyết định đồng thời đã đưa ra quy trình công nghệ gia công đúng đắn trong thực hành cải biên nên bảo đảm được yêu cầu thiết kế đề ra.
Sự thành công của đề tài này là bài học về sự hợp tác và hiệp đồng chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Binh chủng Tăng-Thiết giáp trong công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Kết quả của đề tài đã được cấp trên nhanh chóng xem xét và cho ứng dụng kịp thời bảo đảm nhiệm vụ chiến đấu đặt ra, đạt hiệu quả kinh tế - kỹ thuật và quốc phòng cao.

Ảnh đẹp 2 chiến hạm mới tinh của Hải quân Việt Nam

(Kiến Thức) - Lữ đoàn 167, Quân chủng Hải quân đã chính thức tiếp nhận 2 tàu tên lửa hiện đại HQ-377 và HQ-378 trong ngày hôm nay (27/6).

Ngày 27/6, Tổng công ty Ba Son tiến hành bàn giao hai tàu tên lửa HQ-377 và HQ-378 cho Lữ đoàn 167 (Vùng 2 Hải quân). Hai tàu chiến này do nhà máy Ba Son đóng theo công nghệ do Nga chuyển giao. Trước đó, hôm 24/6, nhà máy Ba Son đã hạ thủy 2 cặp tàu M3, M4 cùng lớp với HQ-377/378 và đấu giáp tổng thành chiếc thứ 5 thuộc cặp tàu thứ 3.
 Ngày 27/6, Tổng công ty Ba Son tiến hành bàn giao hai tàu tên lửa HQ-377 và HQ-378 cho Lữ đoàn 167 (Vùng 2 Hải quân). Hai tàu chiến này do nhà máy Ba Son đóng theo công nghệ do Nga chuyển giao. Trước đó, hôm 24/6, nhà máy Ba Son đã hạ thủy 2 cặp tàu M3, M4 cùng lớp với HQ-377/378 và đấu giáp tổng thành chiếc thứ 5 thuộc cặp tàu thứ 3. 

Đọc nhiều nhất

Tin mới