Người Việt đầu tiên nhận giải thưởng Testut, ‘ông vua’ giải phẫu học

GS.BS Đỗ Xuân Hợp là người Việt đầu tiên nhận giải thưởng Testut và cũng là người đặt nền móng cho ngành Giải phẫu  Việt Nam.

Người Việt Nam đầu tiên nhận giải thưởng Testut danh giá

Năm 1932, khi vừa tròn 26 tuổi, BS Đỗ Xuân Hợp trở thành trợ lý giảng dạy Bộ môn Giải phẫu học, Đại học Y Hà Nội, dưới sự chỉ đạo của GS Pierre Huard, Giám đốc Viện Giải phẫu, Hiệu trưởng Đại học Y Hà Nội.

Sau 10 năm giảng dạy và miệt mài nghiên cứu, ông tích lũy được khối tư liệu quý về hình thái giải phẫu của các dân tộc ở Việt Nam và Đông Dương. Mùa xuân năm 1942, cùng người thầy Pierre Huard, ông xuất bản bằng tiếng Pháp công trình Morphologie humaine et anatomie artistique (Hình thái học nhân thể và giải phẫu học nghệ thuật).

gs-do-xuan-hop-2.jpg
GS Đỗ Xuân Hợp (ngoài cùng bên phải) cùng đoàn cán bộ Việt Nam trong một lần sang thăm và làm việc tại Leningrad, Liên Xô, 1963. Ảnh tư liệu.

Công trình là một bộ sưu tập phong phú, một nghiên cứu có giá trị, cung cấp cơ sở tư liệu cho nhiều lĩnh vực như y học, nhân chủng học, dân tộc học, khảo cổ học và mỹ học. Ngay sau khi xuất bản, cuốn sách đã gây tiếng vang trong giới y học Pháp và Việt Nam, trở thành tài liệu tham khảo quan trọng của nhiều nhà nghiên cứu.

Tên tuổi Đỗ Xuân Hợp từ đó được biết đến rộng rãi. Ngoài giảng dạy tại Đại học Y Hà Nội, ông còn được mời giảng dạy tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Nhưng giá trị lớn hơn của công trình nằm ở ý nghĩa đối với vị thế của trí thức và nền y học Việt Nam. Trong bối cảnh người Việt dưới chế độ thuộc địa thường bị coi thường, việc một bác sĩ Việt Nam cùng đứng tên với GS Pierre Huard trong một công trình khoa học có giá trị quốc tế là minh chứng thuyết phục cho năng lực của trí thức Việt Nam.

Ông là một trong những người được chế độ thuộc địa trả lương cao nhất Đông Dương. Ngày 13/12/1949, sau 7 năm, Viện Hàn lâm Y học Quốc gia Pháp quyết định tặng hai tác giả Pierre Huard và Đỗ Xuân Hợp Giải thưởng Testut, một giải thưởng lớn trong ngành Giải phẫu học thế giới thời ấy.

GS Đỗ Xuân Hợp trở thành người Việt Nam đầu tiên nhận giải thưởng Testut. Hơn 30 năm sau, năm 1980, GS Tôn Thất Tùng mới là người Việt Nam thứ hai được trao giải thưởng danh giá này.

Đặt nền móng cho ngành Giải phẫu Việt Nam

Khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, BS Đỗ Xuân Hợp quyết định rời Hà Nội, bỏ lại căn biệt thự số 69 phố Trần Xuân Soạn cùng cuộc sống đủ đầy để lên đường theo kháng chiến. Quyết định ấy càng đáng chú ý bởi khi đó ông đang giảng dạy tại Đại học Y khoa, chữa bệnh ở Bệnh viện Phủ Doãn và có phòng mạch riêng trên phố Chợ Hôm. Nhưng trước tiếng gọi của Tổ quốc, vợ chồng ông ra đi thanh thản, không chút do dự.

Tháng 3/1947, gia đình ông có mặt ở Việt Trì. Khi quân Pháp tấn công, họ phải dắt díu nhau lên Lâu Thượng, rồi trong đêm ngược dòng sông Lô, qua Bình Sơn (Vĩnh Yên). Tại đây, BS Đỗ Xuân Hợp được giao làm Giám đốc Quân y viện Liên khu 10.

Cuộc kháng chiến càng diễn biến ác liệt, nhu cầu đào tạo cán bộ quân y phục vụ chiến trường càng trở nên cấp thiết. Năm 1949, Trường Đại học Quân y được thành lập giữa cánh rừng Liễn Sơn, xã Hồng Hoa, huyện Tam Dương (Vĩnh Phú). BS Đỗ Xuân Hợp tham gia giảng dạy tại trường, đồng thời giảng dạy tại Đại học Y khoa Chiêm Hóa (Tuyên Quang), do BS Hồ Đắc Di làm hiệu trưởng. Từ năm 1950, ông được giao trọng trách Hiệu trưởng Trường Đại học Quân y.

Giữa bộn bề công việc giảng dạy, quản lý và cứu chữa thương bệnh binh, ông vẫn dành thời gian nghiên cứu khoa học, biên soạn giáo trình. Qua thực tế chiến trường, ông nhận thấy các vết thương ở tay, chân luôn chiếm tỷ lệ lớn. Từ những bài giảng được tích lũy trong quá trình đào tạo, ông biên soạn Giải phẫu tứ chi và thực dụng ngoại khoa, hoàn thành năm 1952 tại chiến khu Việt Bắc.

Cuốn sách nhanh chóng trở thành tài liệu giảng dạy quan trọng trong nhà trường, đồng thời là cẩm nang thiết thực cho cán bộ quân y tại các đơn vị, giúp họ có thêm cơ sở giải phẫu khi cấp cứu và phẫu thuật thương binh ngay tại chiến trường. Công trình được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen, Chính phủ trao tặng ông Huân chương Kháng chiến.

Đặc biệt, từ năm 1952 đến 1971, GS Đỗ Xuân Hợp kiên trì xây dựng một bộ sách giáo khoa Giải phẫu học hoàn chỉnh gồm nhiều tập, gần 1.500 trang với hơn 900 hình ảnh minh họa. Đây là công trình có ý nghĩa đặc biệt đối với nền y học Việt Nam: một trong những bộ sách y khoa lớn đầu tiên được biên soạn bằng tiếng Việt, góp phần đưa tiếng Việt vào giảng dạy y khoa ở bậc đại học.

Đằng sau bộ sách đồ sộ ấy là một nỗ lực khoa học và ngôn ngữ chưa từng có. GS Đỗ Xuân Hợp đã Việt hóa hàng chục nghìn thuật ngữ y học và giải phẫu học theo hướng chính xác, khoa học, đồng thời hạn chế sự lệ thuộc vào thuật ngữ nước ngoài. Qua mỗi lần tái bản, ông đều sửa chữa, bổ sung những kiến thức mới và cập nhật các đặc điểm giải phẫu của người Việt Nam, cũng như kinh nghiệm phẫu thuật được đúc kết từ thực tiễn hai cuộc kháng chiến.

Điểm đặc biệt của bộ sách là bên cạnh những kiến thức kinh điển của giải phẫu học thế giới, GS Đỗ Xuân Hợp còn đưa vào những đặc điểm hình thái cơ thể người Việt Nam do chính ông nghiên cứu, sưu tầm và công bố. Những chỉ dẫn về khám bệnh, phẫu thuật dựa trên cơ sở giải phẫu cũng được ông chú trọng, khiến bộ sách vừa có giá trị khoa học, vừa gắn chặt với thực tiễn đào tạo và điều trị ở Việt Nam. Bộ sách được Nhà xuất bản Y học in nhiều lần, với tổng số gần 20.000 bản.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, gia đình BS Đỗ Xuân Hợp trở về Hà Nội cùng đoàn quân chiến thắng. Trên cương vị Hiệu trưởng Viện Đại học Quân y, ông tiếp tục góp sức xây dựng nền y học nước nhà, đồng thời trực tiếp cứu chữa thương bệnh binh và đào tạo nhiều thế hệ thầy thuốc.

Một đời gắn bó với y học, ông luôn tâm niệm người thầy thuốc phải hết lòng vì người bệnh, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người thầy thuốc giỏi phải đồng thời như mẹ hiền”. GS Đỗ Xuân Hợp qua đời năm 1985 tại Hà Nội, để lại một di sản khoa học đồ sộ và nhiều đóng góp quan trọng cho nền y học Việt Nam.

Những cống hiến ấy được Nhà nước và quân đội ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Độc lập, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Quân kỳ Quyết thắng, danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ đợt I. Nhưng vượt lên trên những phần thưởng, di sản lớn nhất ông để lại là một cuộc đời tận hiến cho y học, với tinh thần “cứu nhân độ thế” mà ông luôn noi theo.

PGS.TS Hồ Uy Liêm- người quy tụ trí thức và bản lĩnh phản biện khoa học

Gần 20 năm cống hiến cho Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), PGS.TS Hồ Uy Liêm đã để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong việc "cởi trói" sáng tạo và quy tụ trí tuệ khoa học.

Những năm tháng “cởi trói” sức sáng tạo

PGS.TS Hồ Uy Liêm, quyền Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (từ năm 2008 đến năm 2010) là một nhà khoa học được đào tạo bài bản về hóa học. Ông tốt nghiệp cử nhân hóa học tại Đại học Tổng hợp Mátxcơva mang tên Lômônôxốp, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về hóa học phân tử tại Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Về nước, ông giảng dạy, làm Phó Chủ nhiệm Bộ môn Hóa - Lý tại Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau đó công tác tại Ban Khoa giáo Trung ương, lần lượt đảm nhiệm các vị trí chuyên viên, vụ phó, vụ trưởng kiêm bí thư chi bộ.

Phát huy trí tuệ đội ngũ trí thức, nâng tầm tư vấn phản biện của VUSTA

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam kỳ vọng nhiệm kỳ IX Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) sẽ tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng tư vấn, phản biện.

Trò chuyện với Tri thức và Cuộc sống trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ IX, TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam bày tỏ sự kỳ vọng lớn của lực lượng cán bộ, chuyên gia trong ngành vào bước phát triển mới của VUSTA.

Theo ông Dũng, trong nhiệm kỳ IX, VUSTA cần tiếp tục phát huy, kế thừa những kết quả tích cực đã đạt được từ nhiệm kỳ VIII, đồng thời triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội đề ra.

TSKH Nghiêm Vũ Khải: Trợ lý pháp lý AI giúp dân tránh rủi ro, bị lừa đảo

TSKH Nghiêm Vũ Khải đề xuất xây dựng trợ lý pháp lý số quốc gia bằng AI, giúp người dân tra cứu pháp luật, cảnh báo sớm rủi ro và chủ động bảo vệ quyền lợi.

Trao đổi với Tri thức và Cuộc sống bên lề Hội thảo góp ý dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi), TSKH Nghiêm Vũ Khải, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Đại biểu Quốc hội khóa XI, XII, XIV, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cho rằng, dự thảo Luật cần tiếp tục đổi mới theo hướng lấy người dân làm trung tâm, bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật và phát triển năng lực pháp lý của công dân.

Đặc biệt, cần bổ sung chính sách xây dựng hệ thống trợ lý pháp lý số quốc gia trên nền tảng trí tuệ nhân tạo (AI), giúp người dân tra cứu, hỏi đáp, nhận cảnh báo rủi ro pháp lý và tiếp cận thông tin pháp luật chính thống nhanh chóng, thuận tiện.

Đọc nhiều nhất

Tin mới