Nhân viên Sacombank vay nợ 28 tỷ: Trách nhiệm ngân hàng thế nào?

(Kiến Thức) - Sau khi vay nợ khoảng 28 tỷ đồng, nhân viên tín dụng của ngân hàng Sacombank có chi nhánh tại huyện Thống Nhất, Đồng Nai đã bỏ trốn khỏi địa phương. Vậy Sacombank có trách nhiệm gì trong trường hợp này?

Liên quan tới vụ việc, T.X.V. (31 tuổi, xã Gia Tân 3, (Thống Nhất, Đồng Nai) là nhân viên Ngân hàng Sacombank nợ 28 tỷ đồng rồi bỏ đi. Vậy trong trường hợp này, ngân hàng Sacombank có trách nhiệm gì không? nếu có, trách nhiệm của ngân hàng thế nào?
Trao đổi với PV Kiến Thức, luật sư Nguyễn Hoàng - Trưởng Văn phòng Luật sư Minh Bạch Quốc tế (Đoàn luật sư thành phố Hà Nội) cho rằng: Trong trường hợp này. Việc đầu tiên là phải xác minh xem số tiền mà V. đang chiếm dụng là thông qua hình thức nào. Nếu tiền đó là tiền mà khách hàng gửi ngân hàng thông qua V. mà V. được ngân hành giao quản lý số tiền đó thì trước mắt ngân hàng phải có trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng. Đồng thời, đề nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền xử lý V. và buộc đối tượng có trách nhiệm trả lại tiền cho ngân hàng.
Nhan vien Sacombank vay no 28 ty: Trach nhiem ngan hang the nao?
Nhân viên ngân hàng ở Đồng Nai bỏ trốn cùng 28 tỷ đồng (Ảnh minh họa)
"Trong trường hợp nếu V. chỉ vay đơn thuần những khách hàng của ngân hàng, thì đây được xác định la quan hệ vay mượn giũa cá nhân với cá nhân. Ngân Hàng không phải chịu trách nhiệm liên đới đối với nghĩa vụ trả nợ của V. trong trường hợp này" - luật sư Hoàng nói
Đồng tình với luật sư đồng nghiệp, luật sư Lê Lưu Phú - Văn phòng luật sư Thảo Phương (Đoàn luật sư thành phố Hà Nội) cho biết: "Do trong cả hai trường hợp trên nếu V. cố tình trốn tránh không trả nợ thì ngân hàng và khách hàng cho V. vay có thể đề nghị cơ quan điều tra xử lý V về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 175 bộ Luật hình sự 2015.
Cụ thể: Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: Có tổ chức, tính chất chuyên nghiệp, chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức, dùng thủ đoạn xảo quyệt, tái phạm nguy hiểm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm, chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Còn phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
>>>Xem thêm Video: Khởi tố cựu nhân viên ngân hàng VPBank chiếm đoạt 3 tỷ đồng 

Nguồn: VTC14


Sông Thao

>> xem thêm

Bình luận(0)