GS.TSKH. Phạm Kỳ Anh: Tự hào huyền thoại học thuật 70 năm Toán - Cơ - Tin học

Nhìn lại 70 năm, GS.TSKH. Phạm Kỳ Anh tự hào chặng đường gian khổ nhưng chói sáng của một trong những chiếc nôi đầu tiên của khoa học cơ bản Việt Nam.

Trò chuyện với PV Tri thức và Cuộc sống, GS.TSKH. Phạm Kỳ Anh chia sẻ, trong suốt chặng đường 70 năm hình thành và phát triển, lịch sử nghiên cứu khoa học của Khoa Toán – Cơ – Tin học, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội gắn liền với tên tuổi của những nhà khoa học lớn đã góp phần làm rạng danh khoa học Việt Nam như Giáo sư Lê Văn Thiêm, Giáo sư Hoàng Tụy cùng nhiều bậc tiền bối kiệt xuất.

Chặng đường 70 năm là minh chứng cho sự nỗ lực, cống hiến bền bỉ của nhiều thế hệ, nơi những nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng Toán học luôn đồng hành cùng công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

“Nhìn lại hành trình đã qua, tôi và biết bao thế hệ thầy trò không chỉ tự hào về một chặng đường trí tuệ đầy bản lĩnh, mà còn có thêm động lực để tiếp tục vươn tới những đỉnh cao tri thức mới”, GS.TSKH. Phạm Kỳ Anh xúc động.

gs-pham-ky-anh.jpg
GS.TSKH. Phạm Kỳ Anh bên tượng GS.NGND. Ngụy Như Kon Tum, Hiệu trưởng đầu tiên và lâu nhất của ĐH Tổng hợp Hà Nội. Ảnh: Mai Loan.

Nền móng đầu tiên xây từ những trang giấy mờ vết mực than

GS.TSKH. Phạm Kỳ Anh cho hay, Khoa Toán – Cơ – Tin học là một trong những chiếc nôi đầu tiên của nền khoa học cơ bản nước nhà. Khởi đầu hành trình từ năm 1956 với tiền thân là Khoa Toán - Lý chung dưới sự chủ nhiệm của GS. Lê Văn Thiêm, đến năm 1963, Khoa Toán Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội chính thức được khai sinh với tư cách là một đơn vị độc lập do GS. Hoàng Tụy làm Chủ nhiệm Khoa.

Khi mới thành lập, lực lượng nghiên cứu khoa học của Khoa vô cùng mỏng. Đội ngũ nòng cốt chỉ gồm GS. Lê Văn Thiêm, GS. Hoàng Tụy cùng một số sinh viên xuất sắc vừa tốt nghiệp được giữ lại trường.

gs-le-van-thiem-7323.png
GS Lê Văn Thiêm (thứ hai bìa trái) và các học trò từ trái qua: Đào Huy Bích, Trần Vĩnh Hiển, Phan Văn Hạp, Hoàng Hữu Như, Nguyễn Hữu Ngự, Phan Văn Chương, phía sau (lấp mặt ), Đinh Nho Chương. Ảnh tư liệu.

Nhìn lại chặng đường nghiên cứu của các bậc tiền bối trong thời kỳ gian khó, thế hệ ngày nay khó lòng hình dung hết những thiếu thốn mà các thầy đã vượt qua. Khi đó chưa có Internet và máy tính, không có điện thoại và hầu như không có tài liệu tham khảo ngoại văn, mỗi công trình Toán học thời đó là một nỗ lực phi thường.

Những bài báo khoa học được gõ miệt mài bằng máy chữ trên những tờ giấy pơ-luya (pelure) mỏng tang, lót nhiều lớp giấy than để in thành 4 bản: ba bản nét nhất gửi cho tòa soạn, bản thứ tư mờ nhất tác giả giữ lại làm lưu chiểu. Riêng những công thức Toán học phức tạp đều phải nắn nót điền từng nét bằng tay.

Để gửi bài đến các tạp chí quốc tế, nếu không nhờ được người quen ra nước ngoài mang hộ, tác giả phải xin giấy giới thiệu của Trường, lặn lội ra Bưu điện Quốc tế ở Bờ Hồ làm thủ tục gửi thư ra nước ngoài. Một lá thư đi mất vài tháng; cộng thêm thời gian chờ đợi phản biện, sớm nhất cũng phải mất vài năm một bài báo mới được lên trang. Bất kỳ yêu cầu chỉnh sửa nào từ tòa soạn cũng kéo theo vô vàn vất vả, tiêu tốn cả thời gian lẫn tài chính cá nhân.

“Gian khổ và thiếu thốn là vậy, nhưng chính những trang giấy mờ vết mực than ngày ấy đã đặt những viên gạch nền móng đầu tiên, đưa Toán học Việt Nam vươn ra biển lớn và sánh vai cùng thế giới trong suốt 70 năm qua”, GS.TSKH. Phạm Kỳ Anh xúc động.

GS Phạm Kỳ Anh cho hay, trong những thành tựu nghiên cứu chói sáng của giai đoạn này, không thể không nhắc tới hai tên tuổi lớn là GS. Lê Văn Thiêm và GS. Hoàng Tụy.

GS. Lê Văn Thiêm là một trong những người đặt nền móng quan trọng cho Toán học hiện đại Việt Nam. Vang danh quốc tế với công trình về bài toán ngược của Lý thuyết Nevanlinna, ông đã cùng với các học trò của mình xây dựng công trình tiên phong trong lĩnh vực lý thuyết nước thấm, cho phép xây dựng nghiệm giải tích của bài toán thấm trong môi trường không đồng chất.

gs-hoang-tuy-2.jpg
GS Hoàng Tụy thời trẻ. Ảnh tư liệu.

Trong khi đó, GS. Hoàng Tụy ghi dấu ấn lịch sử với phát minh đột phá "Lát cắt Tụy" (Tuy's cut) công bố năm 1964 trên tạp chí của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, giải quyết triệt để bài toán quy hoạch lõm dưới các ràng buộc tuyến tính. Phát minh này đã mở ra hướng đi hoàn toàn mới cho ngành tối ưu hóa toàn cục, đưa ông trở thành người đầu tiên trên thế giới nhận Giải thưởng quốc tế Constantin Carathéodory vào năm 2011.

Bên cạnh hai cây đại thụ, nhiều cán bộ thế hệ đầu cũng nêu cao tấm gương tự học, tự nghiên cứu và ghi dấu ấn mạnh mẽ trên trường quốc tế như GS. Nguyễn Thừa Hợp, GS. Hoàng Hữu Đường, GS. Phan Đức Chính, GS. Phạm Ngọc Thao, GS. Phan Văn Hạp, GS. Hoàng Hữu Như, GS. Đào Huy Bích và PGS. Nguyễn Hữu Ngự… Họ đã góp phần đặt những viên gạch nền móng vững chắc, đưa Toán học Việt Nam tự tin vươn ra biển lớn và sánh vai cùng thế giới.

Giảng đường trong bom đạn: Vẫn "tồn tại một nền toán học Việt Nam", phụng sự đất nước

GS Kỳ Anh cho hay, giai đoạn 1966 - 1975 là thời kỳ khốc liệt của chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Thực hiện chủ trương của cấp trên, toàn bộ Khoa Toán đã nhiều lần di chuyển sơ tán lên các vùng đất như Văn Yên (Đại Từ, Bắc Thái), Đông Anh, hay Hiệp Hòa (Hà Bắc). Dù trong khói lửa đạn bom, hoạt động dạy và học chưa bao giờ đứt gãy.

Một trong những mốc son lịch sử không thể nào quên là vào tháng 11/1967, Giáo sư Alexandre Grothendieck, nhân vật vừa nhận giải thưởng Fields danh giá một năm trước đó đã có chuyến hành trình đặc biệt tới khu sơ tán của Khoa Toán tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây, ông trực tiếp giảng dạy một giáo trình chuyên sâu bao gồm lý thuyết phạm trù, đại số đồng điều và hình học đại số với cường độ làm việc cao.

Chứng kiến một dân tộc dù đang trong chiến tranh khốc liệt vẫn duy trì việc dạy và học Toán, liên tục cập nhật những thành tựu tiên tiến nhất của thế giới, Giáo sư Grothendieck đã vô cùng kinh ngạc. Ấn tượng sâu sắc ấy đã thôi thúc ông viết một bài ký sự, trong đó khẳng định mạnh mẽ một định lý mang tính biểu tượng lịch sử: “Tồn tại một nền toán học Việt Nam”.

Gắn liền với nhiệm vụ phục vụ đất nước, cán bộ và sinh viên của Khoa đã trực tiếp tham gia giải quyết nhiều bài toán thực tiễn chiến đấu, đưa toán học phục vụ trực tiếp công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Ngay từ những năm 1960, các thầy cô và sinh viên đã tích cực đem vận trù học ứng dụng vào công tác vận tải quân sự, xí nghiệp, tính toán pha cắt tiết kiệm nguyên vật liệu tại Công ty Gang thép Thái Nguyên, Nhà máy Hoa quả hộp Hà Nội, hay thử nghiệm sơ đồ PERT tại Nhà máy Phân đạm Bắc Giang.

Đặc biệt, vào năm 1966, thầy Lê Văn Thiêm cùng các học trò đã nghiên cứu thành công bài toán nổ mìn định hướng, áp dụng nạo vét tuyến kênh Nhà Lê, đóng góp thiết thực vào công tác giao thông vận tải thời kỳ kháng chiến.

gs-phan-van-hap.jpg
GS.TSKH. Phan Văn Hạp. Ảnh: Mai Loan.

Một minh chứng sinh động khác cho tinh thần "Toán học vị nhân sinh" diễn ra vào giai đoạn 1966 – 1967. Giữa lúc chiến tranh khốc liệt, thầy Nguyễn Bác Văn cùng các thầy Phạm Quang Đức, Phan Văn Hạp, Nguyễn Quý Hỷ, Nguyễn Văn Hữu và sinh viên năm cuối được giao nghiên cứu bài toán dự báo tốc độ, hướng gió ở các độ cao khác nhau, nhằm điều chỉnh bảng bắn do Liên Xô cung cấp được xây dựng trên cơ sở những thông số khí tượng của vùng ôn đới cho phù hợp với điều kiện khí tượng Việt Nam.

Không có máy tính, bằng tư duy xác suất thống kê sắc bén và sự bền bỉ xử lý chuỗi số liệu tại Trạm Khí tượng Láng, các thầy trò đã "Việt hóa" bảng bắn pháo binh, vốn chỉ giúp lực lượng pháo binh tính toán tọa độ chính xác, giáng những đòn sấm sét xuống các chiến trường ác liệt.

Tinh thần vượt khó, ý chí bền bỉ theo đuổi khoa học và trách nhiệm phụng sự đất nước được hun đúc trong chiến tranh đã tạo nền tảng vững chắc để các thế hệ thầy trò tiếp tục phát triển nghiên cứu, đào tạo nhân lực và đóng góp cho nền toán học Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo.

Di sản 70 năm, tiếp tục là ngọn đuốc soi đường

GS.TSKH. Phạm Kỳ Anh chia sẻ, sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, các thế hệ nhà toán học tiếp tục gây dựng lực lượng, duy trì nghiên cứu. Trong điều kiện còn nhiều thiếu thốn, họ vẫn giữ vững sự nghiêm cẩn, tận hiến trong khoa học và giáo dục.

tran-van-nhung.jpg
GS.TSKH. Trần Văn Nhung tại Hội nghị khoa học nhân dịp 70 năm thành lập Khoa.

Những người thầy như GS.TSKH. Đào Trọng Thi, GS.TSKH. Nguyễn Hữu Việt Hưng, GS.TSKH. Trần Văn Nhung, GS.TSKH. Nguyễn Văn Mậu, GS.TSKH. Phạm Kỳ Anh, GS.TSKH. Đặng Hùng Thắng, GS.TS. Nguyễn Hữu Dư và GS.TSKH. Nguyễn Văn Minh vừa theo đuổi các hướng nghiên cứu chuyên sâu, vừa tham gia đào tạo, bồi dưỡng những thế hệ sinh viên, nghiên cứu sinh.

khoa-toan.jpg
Các thế hệ thầy trò tại Hội nghị khoa học nhân dịp 70 năm thành lập Khoa.

Trong số đó, GS.TSKH. Đào Trọng Thi có những công trình về mặt cực tiểu; cuốn Minimal Surfaces and Calibrated Currents ông viết cùng A.T. Fomenko được xuất bản tại Moskva năm 1989, sau đó được dịch sang tiếng Anh năm 1991. GS.TSKH. Nguyễn Hữu Việt Hưng có đóng góp lớn trong lĩnh vực tô pô đại số. Định lý cốt lõi trong luận án của ông sau này được giới toán học thế giới công nhận và đặt tên là "Hung's Injectivity Theorem" (Định lý đơn cấu của Hưng), trở thành mạch nguồn phát triển cho nhiều công trình quốc tế uy tín suốt 40 năm sau đó.

khoa-toan-1965.jpg
Tri ân những người thầy lớn đã góp phần làm nền bề dày lịch sử của Khoa, đóng góp cho nền Toán học nước nhà.

Đóng góp của các nhà toán học còn thể hiện qua việc đưa tri thức vào giải quyết những bài toán của đất nước. Các nhóm nghiên cứu do GS.TS. Nguyễn Quý Hỷ và GS.TS. Nguyễn Văn Hữu dẫn dắt đã vận dụng mô hình toán học để điều phối toa xe đường sắt, tính toán hệ thống cấp thoát nước, dự báo dầu khí. Nghiên cứu cũng phục vụ việc điều khiển các nhà máy điện ở miền Bắc trước khi đường dây 500 kV Bắc – Nam đi vào hoạt động, đồng thời hỗ trợ công tác vận hành Nhà máy thủy điện Hòa Bình.

Chặng đường 70 năm cũng có những giai đoạn đầy khó khăn, nhất là cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, khi khủng hoảng kinh tế khiến đời sống và hoạt động nghiên cứu của nhiều nhà khoa học bị ảnh hưởng, lực lượng nghiên cứu có lúc suy giảm. Nhưng bằng sự bền bỉ, tinh thần vượt khó và tâm huyết với nghề, các thế hệ thầy và trò đã giữ gìn nền tảng học thuật, từng bước khôi phục và phát triển các nhóm nghiên cứu.

Từ giữa những năm 90 đến những năm đầu của thập kỷ 21 là thời kỳ hồi phục và phát triển, hình thành những nhóm nghiên cứu mạnh thu hút được nhiều nhà khoa học tham gia.

Nhóm nghiên cứu mạnh về Tô pô đại số do GS. TSKH. Nguyễn Hữu Việt Hưng chủ trì là một trong những tập thể khoa học tiêu biểu, khẳng định vị thế và uy tín học thuật của ngành Tô pô đại số Việt Nam trên trường quốc tế.

gs-vu-hoang-linh-8181.png
GS.TSKH. Vũ Hoàng Linh, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội), nguyên Trưởng Khoa Toán - Cơ - Tin học và Cán bộ của Khoa tham dự Hội nghị toán học thế giới tháng 7 năm 2026. Ảnh: NTCC.

Nhóm nghiên cứu về các phương pháp giải phương trình vi phân và hệ động lực suy biến do GS. TSKH. Nguyễn Hữu Công, GS. TSKH. Phạm Kỳ Anh, GS. TS. Nguyễn Hữu Dư và GS. TSKH. Vũ Hoàng Linh làm nòng cốt cũng đã đóng góp nhiều công trình nghiên cứu giá trị, được công bố trên các tạp chí uy tín thế giới, khẳng định vị thế của Toán học Việt Nam.

Bên cạnh các thế hệ “cây đa cây đề”, đội ngũ các giảng viên trẻ của Khoa đã bước đầu khẳng định được tên tuổi trong cộng đồng quốc tế, tiếp bước những người thầy lớn, như TS. Hoàng Nam Dũng, PGS. Nguyễn Thị Hoài, PGS. Lê Quý Thường, PGS. Đào Phương Bắc, PGS. Đỗ Việt Cường, PGS. Ngô Quốc Anh, PGS. Nguyễn Thạc Dũng, PGS. Phạm Trọng Tiến, PGS. Nguyễn Tiến Dũng, TS. Phạm Đình Tùng, PGS. Lê Hồng Phương,… Nhiều cựu sinh viên khác của Khoa đã trở thành các nhà khoa học có tên tuổi ở các trường đại học và viện nghiên cứu uy tín trên thế giới và Việt Nam.

“Hành trình 70 năm (1956 - 2026) nghiên cứu khoa học của Khoa Toán - Cơ - Tin học có thể coi là một thiên niên kỷ thu nhỏ của niềm đam mê, sự cống hiến và những bước đi tiên phong. Tôi tự hào và xúc động được góp sức trong hành trình đó”, GS Phạm Kỳ Anh bày tỏ.

le-minh-ha.jpg
Những thế hệ viết tiếp hành trình Toán học.

Nhìn lại chặng đường đã qua, theo GS Phạm Kỳ Anh, điều tự hào không chỉ ở một di sản học thuật đồ sộ, được xây đắp bằng trí tuệ và bản lĩnh của nhiều thế hệ, mà còn từ đó tìm thấy được nguồn động lực vô bờ bến cho chặng đường phía trước. Sự hòa quyện giữa chiều sâu truyền thống và sức bật liên ngành hiện đại của đội ngũ trẻ chính là chìa khóa để Khoa tự tin mở ra những không gian hợp tác mới.

“Di sản 70 năm tiếp tục là ngọn đuốc soi đường, thôi thúc các thế hệ thầy trò không ngừng chinh phục các đỉnh cao tri thức mới, viết tiếp những trang sử vàng và giữ vững vị thế tiên phong trong kỷ nguyên số”, GS.TSKH. Phạm Kỳ Anh chia sẻ.

Bài viết nằm trong tuyến bài “Những nhà khoa học, những người thầy” nhằm tôn vinh những tên tuổi đã góp phần làm nên diện mạo và vị thế của khoa học, giáo dục Việt Nam, đồng thời lan tỏa những giá trị mà họ để lại cho các thế hệ hôm nay.

Mời quý độc giả xem video: GS.TS.NGƯT Phan Văn Hạp chia sẻ: "Nếu được chọn lại, tôi vẫn chọn ngành Toán". Thực hiện: Mai Loan.

GS Lê Văn Thiêm qua lời kể GS Phan Văn Hạp: Người thầy lớn, nhân cách lớn

Theo GS. Phan Văn Hạp, GS Lê Văn Thiêm là người có công đầu xây dựng Đại học Tổng hợp Hà Nội, một nhân cách lớn của giáo dục Việt Nam.

Năm 1949, theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Giáo sư Lê Văn Thiêm về nước tham gia kháng chiến, công tác tại Sở Giáo dục Nam Bộ. Năm 1951, ông được Chính phủ điều động ra Việt Bắc, giao nhiệm vụ xây dựng Trường Khoa học Cơ bản và Trường Sư phạm Cao cấp, đồng thời giữ cương vị Hiệu trưởng hai trường tại Khu học xá Trung ương Nam Ninh (Trung Quốc) đến năm 1954.

Sau ngày giải phóng Thủ đô, ông được cử làm Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Khoa học, giữ cương vị này trong giai đoạn 1954–1956. Năm 1956, khi Chính phủ thành lập Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, GS Lê Văn Thiêm được cử làm Phó Hiệu trưởng, đồng thời kiêm Chủ nhiệm Khoa Toán.

[e-Magazine] GS Phan Văn Hạp: Người mở đường Toán học tính toán Việt Nam

e-gs-phanvanhap-1.jpg

Trong lịch sử giáo dục đại học Việt Nam thế kỷ XX, các sinh viên Khóa 1 Đại học Tổng hợp Hà Nội (1956) giữ một vị trí đặc biệt. Họ vừa là người góp sức đặt những viên gạch đầu tiên cho nền khoa học cơ bản nước nhà sau hòa bình lập lại ở miền Bắc, vừa là chứng nhân cho một thời kỳ trí thức dấn thân, khao khát cống hiến và tận hiến cho Đất nước.

GS Hoàng Tụy, người thầy vĩ đại không ngại nói thẳng

GS Hoàng Tụy, nhà khoa học và người thầy vĩ đại, dám thẳng thắn chỉ ra những vấn đề giáo dục, truyền cảm hứng tri thức cho nhiều thế hệ.

e-gs-hoangtuy-1.jpg

Sinh ra trong một gia đình nghèo ở Quảng Nam, vượt qua tuổi thơ nhiều khó khăn, GS Hoàng Tụy đã trở thành nhà toán học xuất sắc và người thầy mẫu mực của Việt Nam. Suốt đời tận hiến cho khoa học và giáo dục, ông không ngại “nói thẳng” về những vấn đề nóng của ngành giáo dục, để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng học trò, đồng nghiệp và cả nền giáo dục nước nhà.

Đọc nhiều nhất

Tin mới