Bản thân các loại cá da trơn có kích thước khá to. Nhưng để tăng nhanh kích thước của cá, một số người nuôi cho cá ăn hóc-môn. Vì thế, những con cá được nuôi tự nhiên thì ít nguy hiểm và giàu dưỡng chất hơn những con bị kích lớn.
Cá thu chứa thủy ngân, không thể bài tiết ra ngoài mà lắng đọng trong cơ thể gây bệnh. Cá thu Đại Tây Dương được xem là an toàn nhất, người lớn có thể ăn 200g/tháng, trẻ em là 100g/tháng.
Cá ngừ chứa rất nhiều thủy ngân, đặc biệt là cá ngừ vây xanh và cá ngừ vây đen. Các chuyên gia sức khoẻ khuyên rằng, đối với loại cá này thì người lớn chỉ nên ăn 100g/tháng, trẻ em không khuyến khích.
Cá rô-phi không chứa nhiều axit béo có lợi, nhưng lại tập trung nhiều axit béo có hại không khác gì mỡ lợn. Ăn quá nhiều cá rô-phi có thể làm tăng cholesterol, khiến cơ thể dễ bị dị ứng. Người bị bệnh tim, hen suyễn và viêm khớp được khuyên là không nên ăn nhiều cá rô-phi.
Cá chình rất béo, nó lại dễ hấp thụ rác thải công nghiệp và nông trại từ nguồn nước. Cá chình nhập từ Mĩ được cho là chứa nhiều chất độc nhất. Cá chình châu Âu cũng nhiễm khá nhiều thủy ngân. Người lớn có thể ăn 300g cá chình/tháng, trẻ em là 200g/tháng.
Cá này đứng đầu trong danh sách nhiễm thủy ngân, rất dễ gây ngộ độc. Do đó, phụ nữ và trẻ em được khuyên là không nên ăn cá đổng quéo, nam giới có thể ăn khoảng 100g/tháng.
Cá tuyết được bán với giá khá đắt đỏ, tuy nhiên loại cá này cũng chứa 1 lượng lớn thủy ngân. Do đó, người lớn chỉ nên ăn 200g/tháng, trẻ em là 100g/tháng.
Cá này chứa gempylotoxin, một loại độc tố không thể chuyển hóa. Độc tố này không gây hại nhiều, nhưng sẽ gây khó tiêu. Bạn có thể chiên hoặc nướng để làm giảm lượng gempylotoxin trong cá. Những người mắc bệnh đường tiêu hóa thì không nên ăn món này.
1. Cá tươi luôn có vảy sáng và mắt trong. Hãy cầm 1 con cá lên và quan sát kĩ, cá ươn thì đuôi của nó thường hạ xuống yếu ớt, vây khô và mang xám thay vì có màu đỏ tươi.
