Thợ “xịn”
Khi viết bài này, tôi chợt nhớ đến những than phiền của cụ Lê Đình Chuyển, Ban Kiến thiết chùa Khê Tang, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai cách đây ít lâu rằng: “Bây giờ thợ ngõa “chính hiệu” thì ít mà cái đám thợ không có tay nghề thì nhiều. Chùa nào may mắn tìm được cánh thợ “chính hiệu” thì còn giữ được chùa. Không may vớ phải đám thợ lăng nhăng thì chỉ sau khi trùng tu vài ba năm là chùa lại đổ nghiêng đổ ngửa, nát hết cả chùa cổ”.
Cái sự băn khoăn ấy của cụ Chuyển không phải là vô lý khi chùa Khê Tang nằm cách cái nôi của thợ ngõa “xịn” là làng Mậu Lương chỉ non 3km, vậy mà phải mất nửa năm trời các cụ mới đi tìm được cánh thợ này về sửa ngôi chùa cổ có tuổi thọ hàng trăm năm.
Theo nhiều người cao tuổi ở địa phương thì cánh thợ ở làng Mậu Lương có gốc tích từ xã Kim Lủ, huyện Sóc Sơn, xưa kia, đây là vùng đất nức tiếng vì có đội thợ ngõa rất giỏi. Có thời kỳ, đội thợ này được vua giao cho xứ mệnh xây dựng kinh thành Thăng Long. Ngoài ra, vào thời Đông Hán, đội thợ này còn được mời đi xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp ở Trung Quốc...
Được người dân chỉ dẫn, sau nhiều ngày lần mò cuối cùng chúng tôi cũng tìm được cánh thợ Mậu Lương nức tiếng chốn Hà Thành tại chùa Bái Ân, phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy.
Gặp cánh thợ ngõa của anh Tám, chúng tôi thấy chỉ có hai người hì hụi làm nóc chùa. Tôi thắc mắc: “Sao các anh không gọi thêm anh em làm cho nhanh?”. Anh Tám lên tiếng: “Gọi đông cũng có làm được đâu, phải thợ có tay nghề cao thì mới làm được việc này, tay nghề mà còn phọt phẹt thì chỉ đi xách vôi, vữa, xi măng thôi”.
Hai người thợ lành nghề trong cánh thợ ngõa ngoài anh Tám ra còn có anh Lê Đình Chung. Cả hai anh đều là thợ ngõa Mậu Lương “chính hiệu”. Các anh đi học nghề từ năm mới lên mười tuổi, sau hơn 10 năm học nghề cả hai anh mới có thể tự tay lợp được viên ngói lên nóc chùa mà không bị tụt hay hở mái.
Chúng tôi đang trong “sách đỏ”
Nhắc đến những người làm thợ ngõa, anh Lê Đình Chung - một trong hai người thợ cuối cùng của làng Mậu Lương giải thích: “Để làm được một ngôi chùa phải qua rất nhiều dây chuyền, đầu tiên là thợ ngõa chuyên làm mộc, dựng cột, làm nóc, lợp ngói. Tiếp đến là thợ vẽ chuyên vẽ các hoa văn, họa tiết trong chùa.
Trước đây, có một số cánh thợ làm kiêm nhiệm là vừa xây dựng vừa chạm khắc hoặc vẽ, nhưng trong số họ phải có người khéo tay, có kiến thức về nghệ thuật và có kinh nghiệm lâu năm trong nghề thì mới có thể làm được.
Anh Chung tiết lộ: “Một ngày công của thợ ngõa làm chùa từ 600.000 - 800.000đ. Nếu so với thợ xây bình thường thì tiền công của thợ ngõa cao gấp 3 - 4 lần mà công việc thì tất bật quanh năm. Mặc dù vậy nhưng nhiều người không mặn mà gì với việc học nghề cổ.
1m2 gánh trên 200 viên ngói
Việc trùng tu, sửa chữa các ngôi cổ tự không hề đơn giản chút nào khi mà người thợ phải dựng nhà với kết cấu vững chắc nhất để mái nhà chịu được một lực rất lớn. Nếu tính ra thì một mét vuông mái nhà phải gánh từ 200 - 260 viên ngói, nếu tính trọng lượng thì có thể nặng tới trên 160kg.
Theo anh Chung thì muốn có kết cấu vững chắc, phần kết cấu chính gồm cột, kèo... phải được làm bằng gỗ táu mật, hoặc gỗ mít cổ thụ, hai loại gỗ này có có thể tồn tại tới trên 100 năm mà không bị mối, mọt. Nếu dùng dỗ lim làm cột thì tuổi thọ chỉ được 60 - 70 năm.
Nhớ lại việc khắc phục những công trình bị hư hại do thợ rởm làm, anh Chung kể: “Cách đây ít lâu chúng tôi nhận công trình đến Thánh Dực ở phường Thụy Khuê, trước đó đã có một cánh thợ khác nhúng tay sửa ngôi chùa, họ đã đánh tráo những loại gỗ tốt làm đình chùa bằng gỗ rởm, chẳng hạn như thay vì làm cột bằng gỗ táu mật thì họ làm bằng táu muối, vì thế chỉ sau bốn năm những chiếc cột làm bằng táu muối bị mối ăn rỗng hết, không thể chịu được lực đè khoảng 50 - 100 tấn từ mái ngói.
Khi nhận công trình, chúng tôi phải làm lại hoàn toàn theo đúng lề lối cũ vì thế rất tốn kém, mất công sức, tiền của. Nếu nhà được làm theo đúng lề lối cũ, thợ làm nghiêm túc thì cứ sau 20 năm mới phải đảo lại ngói, còn cấu trúc nhà thì cả trăm năm mới phải trùng tu, sửa chữa”.
| Anh Chung cho biết: “Khi làm phần nóc chùa thì tuyệt đối không được dùng thép để đúc mà chỉ được đổ một lớp bê tông làm đệm, sau đó gắn ngói hình lòng máng (ngói bò) vào. Phải làm như vậy vì sau khoảng 20 năm nếu kết cấu chùa có sự biến dạng khiến nóc bị nứt, gãy thì người thợ chỉ việc kê thêm đệm vào phía dưới của viên ngói bò và bịt trát xi măng vào là được. Nếu làm nóc bằng cách đổ bê tông cốt thép thì khi kết cấu chùa biến dạng sẽ không còn cách nào khắc phục mà phải đập phá toàn bộ nóc chùa để làm mới gây thiệt hại về tiền của lớn. Cách đổ bê tông cốt thép là không đúng qui định của việc xây dựng chùa cổ”. |


