Nguyên Phó Giám đốc Eximbank chiếm đoạt 245 tỷ đối diện mức án nào?

(Kiến Thức) - Ông Lê Nguyễn Hưng - nguyên Phó Giám đốc Eximbank Chi nhánh TP HCM - người lừa đảo chiếm đoạt 245 tỷ đồng của nữ khách hàng - có thể phải đối mặt với mức án cao nhất là tù chung thân...

Ông Lê Nguyễn Hưng - nguyên Phó Giám đốc Eximbank Chi nhánh TP.HCM - bị cáo buộc là người lừa đảo chiếm đoạt 245 tỉ đồng của nữ khách hàng VIP rồi bỏ trốn ra nước ngoài - sẽ chịu mức án nào hiện là câu hỏi đang được dư luận hết sức quan tâm. Để làm rõ vấn đề này, Kiến Thức đã liên hệ với Ths. Ls Đặng Văn Cường – Trưởng văn phòng Luật sư Chính Pháp, Đoàn Luật sư TP.Hà Nội.
Trao đổi với Kiến Thức về vụ lừa đảo chiếm đoạt 245 tỉ đồng xảy ra tại Ngân hàng Eximbank -  chi nhánh TP.HCM, Ths. Ls Đặng Văn Cường nhận định: Ông Hưng đang bị khởi tố, truy nã về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Nếu ông Hưng bị bắt và bị kết án về tội danh này thì hình phạt của ông Hưng sẽ thuộc trường hợp quy định tại khoản 4, Điều 174 Bộ luật hình sự, mức án sẽ là từ 12 đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Với số tiền đặc biệt lớn như vậy, nguyên Phó Giám đốc Eximbank Chi nhánh TP.HCM sẽ phải đối mặt với mức án cao nhất là tù chung thân, đồng thời có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, tịch thu tài sản, ngoài ra còn phải bồi thường, khắc phục hậu quả đối với toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt của người bị hại.
 Lê Nguyễn Hưng - Nguyên Phó Giám đốc Eximbank chi nhánh TP.HCM, đang bị truy nã quốc tế. Ảnh: Tuổi trẻ.
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Bảo Ngọc

>> xem thêm

Bình luận(0)