Vì sao côn trùng thời tiền sử lại có kích thước khổng lồ đến đáng sợ?

Có thời kỳ Trái Đất tồn tại những loài côn trùng khổng lồ, với sải cánh lớn đến mức khiến các loài côn trùng ngày nay trở nên vô cùng nhỏ bé.

Khoảng 300 triệu năm trước, trong kỷ Carbon và Permi, bầu trời Trái Đất từng thuộc về những sinh vật mà ngày nay nghe giống như trong phim khoa học viễn tưởng. Nổi tiếng nhất là Meganeura, một họ hàng cổ đại của chuồn chuồn, có sải cánh lên tới khoảng 70–71 cm. Một số động vật chân khớp khác còn gây kinh ngạc hơn: Arthropleura, họ hàng xa của cuốn chiếu, có thể dài tới khoảng 2 mét.

Ảnh: Pinterest

Vì sao côn trùng và các động vật chân khớp khi ấy có thể đạt kích thước khổng lồ như vậy?

Trong nhiều thập niên, lời giải thích phổ biến nhất liên quan đến oxygen. Vào cuối kỷ Carbon, nồng độ oxygen trong khí quyển có thể đạt khoảng 30–35%, cao hơn đáng kể so với mức khoảng 21% hiện nay. Những khu rừng đầm lầy rộng lớn và sự tích tụ carbon hữu cơ trong các vùng đất ngập nước góp phần làm thay đổi thành phần khí quyển.

Ảnh: http://chc.org/

Côn trùng có hệ thống hô hấp rất khác con người. Oxygen đi vào cơ thể thông qua các lỗ thở rồi được dẫn trực tiếp đến các mô bằng mạng lưới ống khí. Vì vậy, từ lâu người ta cho rằng khi oxygen trong không khí dồi dào hơn, hệ thống này có thể cung cấp đủ oxygen cho một cơ thể lớn hơn. Không khí giàu oxygen cũng có thể hỗ trợ hoạt động bay của những loài côn trùng khổng lồ.

Nhưng câu chuyện không đơn giản như vậy.

Một nghiên cứu mới công bố trên Nature năm 2026 đã thách thức giả thuyết cho rằng giới hạn oxygen trong hệ thống ống khí là nguyên nhân chính quyết định kích thước côn trùng. Các nhà nghiên cứu khảo sát 44 loài thuộc 10 bộ côn trùng, đồng thời xem xét cả Meganeuropsis permiana, một trong những côn trùng bay khổng lồ nhất từng biết. Kết quả cho thấy lượng không gian dành cho các ống khí trong cơ bay không tăng đủ mạnh theo kích thước cơ thể để chứng minh oxygen khuếch tán là “nút thắt” quyết định.

Ảnh: mundoprehistorico

Điều đó không có nghĩa oxygen hoàn toàn không liên quan. Nó có thể là một phần của câu trả lời, kết hợp với nhiều yếu tố khác. Một giả thuyết khác cho rằng côn trùng khổng lồ thời đó được hưởng lợi từ việc thiếu các động vật săn mồi trên không như chim và dơi. Khi những nhóm săn mồi này tiến hóa, áp lực chọn lọc có thể khiến côn trùng bay phải nhỏ hơn, nhanh nhẹn hơn.

Vì thế, câu hỏi “tại sao côn trùng cổ đại khổng lồ?” vẫn chưa có một đáp án duy nhất. Bầu khí quyển đặc biệt, hệ sinh thái cổ đại và lịch sử tiến hóa có lẽ đã cùng nhau mở ra một khoảng thời gian mà những sinh vật nhỏ bé ngày nay từng trở thành những gã khổng lồ thực sự.

Loài hoa khổng lồ có hình dáng như vương miện từng xuất hiện từ hàng trăm triệu năm trước

Câu chuyện bi thảm về sinh vật khổng lồ từng tồn tại rồi biến mất ở Nga

Giữa biển Bering lạnh giá, có một quần đảo xa xôi từng là nơi cư trú của những loài động vật không tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác.

Cách bán đảo Kamchatka khoảng 170 km về phía đông, Quần đảo Commander là một nhóm đảo hẻo lánh thuộc vùng Viễn Đông nước Nga. Hai đảo lớn nhất là Bering và Medny, cùng nhiều đảo đá nhỏ, nằm trên một dãy núi lửa ngầm khổng lồ kéo dài giữa Alaska và Kamchatka. Các cấu trúc địa chất cổ nhất ở đây có niên đại khoảng 60–70 triệu năm.

86% sinh vật trên Trái Đất vẫn chưa được con người biết đến?

Con người đã lập bản đồ gần như toàn bộ hành tinh, nhưng vẫn chưa biết chính xác mình đang chia sẻ Trái Đất với bao nhiêu loài sinh vật.

Nếu hỏi có bao nhiêu loài đang sống trên Trái Đất, câu trả lời gây ngạc nhiên là: chúng ta không biết.

Một nghiên cứu nổi tiếng công bố trên PLOS Biology năm 2011 ước tính Trái Đất có khoảng 8,7 triệu loài sinh vật nhân thực – nhóm bao gồm động vật, thực vật, nấm và nhiều sinh vật đơn bào. Trong số đó, khoảng 2,2 triệu loài có thể sống trong đại dương. Theo mô hình này, khoảng 86% số loài trên đất liền và 91% số loài trong đại dương vẫn chưa được khoa học mô tả.

Hóa thạch viết lại lịch sử ra đời của động vật có vú

Nghiên cứu của Hội đồng Nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật Quốc gia (CONICET) của Argentina đã cho thấy, việc sinh con đã xuất hiện ở ít nhất một tổ tiên động vật có vú, Chiniquodon theotonicus, sống cách đây khoảng 236 triệu năm.

chiniquodon-theotonicus-life-reconstruction.jpg
Những bà mẹ kỷ Tam Điệp - Loài động vật có vú, sinh con đầu tiên. Minh họa của María de los Ángeles Miceli Baro

Tác giả chính Adriana Mancuso, nhà nghiên cứu tại CONICET cho biết, sự cạnh tranh gay gắt về thức ăn và áp lực săn mồi mạnh mẽ, kết hợp với xu hướng khô hạn và tính mùa vụ rõ rệt, phôi của các loài đẻ con sẽ được bảo vệ tốt hơn so với phôi của các loài đẻ trứng.

Đọc nhiều nhất

Tin mới