Tắc kè vốn là loài bò sát sống hoang dã, thường trú ngụ trong các bụi cây, khe đá hay mái nhà cũ. Với bộ da sần sùi, đôi mắt tròn lồi và đặc biệt là tiếng kêu vang vọng trong đêm, loài vật này thường tạo cảm giác lo sợ cho con người, thậm chí tránh né. Tuy nhiên, điều mà ít người biết là tắc kè lại có giá trị rất cao trong y học cổ truyền lẫn chế biến thực phẩm.
Theo Đông y, tắc kè là vị thuốc quý có tác dụng bổ phổi, tăng cường sinh lực cho phái mạnh, đau lưng, mỏi gối... Bên cạnh đó, tắc kè còn được nuôi làm dược liệu xuất khẩu với giá trị kinh tế cao. Ngoài nuôi tắc kè thương phẩm, một số hộ nông dân chọn cách nuôi để tạo ra những cá thể ba mẹ chất lượng, từ đó cho giao phối, cung cấp con giống có khả năng sinh trưởng tốt cho thị trường.
Hiện tại, tắc kè đáp ứng được nhiều nhu cầu như nuôi làm cảnh, làm dược liệu quý, làm thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, đặc biệt là xuất khẩu.
Ở Việt Nam, giống tắc kè được nuôi phổ biến nhất là tắc kè hoa - loài tắc kè bản địa phân bố rộng rãi tại các khu vực rừng núi và miền quê. Đây cũng là giống tắc kè được ưa chuộng nhờ kích thước lớn (có thể dài tới 30–35 cm khi trưởng thành), khả năng sinh sản tốt và có giá trị cao.
Tắc kè hoa có màu sắc đặc trưng, sở hữu bộ da sần màu xám xanh, lốm đốm các chấm đỏ cam.
Theo nhiều hộ nông dân nuôi tắc kè không giống như nuôi gia súc hay gia cầm. Khi nuôi đòi hỏi quy trình chăm sóc phải nghiêm ngặt hơn như thức ăn phải sạch 100%, chuồng trại phải thông thoáng, đủ ánh sáng tự nhiên, nhiệt độ chuồng vừa phải. Hàng tuần phải phun thuốc sát trùng và thường xuyên vệ sinh môi trường sạch sẽ thì tắc kè sẽ không bị mắc bệnh ngoài da, nhiễm khuẩn hay bị bệnh tiêu hóa.
Thức ăn nên phong phú để đảm bảo đủ dinh dưỡng như dế, sâu gạo, gián, cào cào. Quan trọng là đảm bảo không gian yên tĩnh, tránh tiếp xúc nhiều với con người. Nếu bị stress hay vấn đề về tâm lý, tắc kè sẽ bỏ ăn và chậm lớn.
Ngoài ra, người nuôi cũng cần phân loại tắc kè theo kích cỡ để dễ chăm sóc và hạn chế tắc kè cắn nhau. Thời điểm thu hoạch lý tưởng là sau 8-10 tháng nuôi, khi trọng lượng đạt từ 80g trở lên. Nếu làm giống thì giữ lại cặp đực cái khỏe mạnh, sinh sản đều. Mỗi năm tắc kè cho sinh sản từ tháng 4 đến tháng 9, những tháng còn lại là thời gian ngủ đông.
Đầu năm 2019, anh Nguyễn Văn Tài (SN 1972, ngụ huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk) ra Hà Nội tìm mua 60 con tắc kè giống thương phẩm về nuôi sinh sản. Thời gian đầu do chưa có nhiều kinh nghiệm, một số con không thể phát triển, ảnh hưởng đến chất lượng và sản lượng.
Sau đó, anh đã chạy khắp nơi để tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm và đến nay đã có những tín hiệu khả quan. “Quy mô nuôi tắc kè ban đầu chỉ 10m2, đến năm 2020 gia đình tôi đã đầu tư xây dựng tăng quy mô lên 50m2. Hiện gia đình tôi đang nuôi hơn 400 con tắc kè, gồm cả con tắc giống và tắc kè thương phẩm, lúc nhiều nhất lên đến 500 con” - anh Tài tiết lộ về quy mô nuôi tắc kè của gia đình mình.
Hiện, anh Tài kinh doanh tắc kè thương phẩm có mức giá dao động trong khoảng 150.000-250.000 đồng/con tuỳ theo trọng lượng, khách hàng mua chủ yếu về gây nuôi sinh sản hoặc làm dược liệu.
Với hơn 5 năm kinh nghiệm, anh Tài khẳng định nuôi tắc kè tuy không quá phức tạp. Song, đòi hỏi quy trình chăm sóc nghiêm ngặt. Tắc kè cần được nuôi trong môi trường chuồng trại sạch sẽ, thông thoáng, mát mẻ và có ánh sáng tự nhiên.
Nuôi tắc kè quan trọng nhất là chuồng trại phải sạch sẽ, thoáng mát.
Tắc kè sinh sản mạnh vào mùa từ tháng 4 đến tháng 8 âm lịch. Mỗi lứa, tắc kè mẹ đẻ từ 6–8 trứng, sau 2–3 tháng trứng sẽ nở. Loài vật này có thể sinh sản liên tục nhiều năm. Theo kinh nghiệm, để tắc kè sinh sản hiệu quả, nên nuôi theo tỷ lệ 1 con đực ghép với 4 con cái trong mỗi chuồng. Bên cạnh bán tắc kè giống và thương phẩm, anh Tài còn ấp ủ kế hoạch xây dựng nhà xưởng chế biến các sản phẩm từ tắc kè như cao, bột khô và rượu tinh chất.
Để tiết kiệm chi phí và chủ động nguồn thức ăn, anh Tài còn nuôi thêm dế mèn. Từ 2 thùng thử nghiệm ban đầu, hiện anh đã mở rộng lên 20 thùng nuôi dế, mỗi thùng có diện tích 1,2x2,4m, bên trong lót khay xốp để dế trú ngụ.
Sau khoảng 45 ngày, mỗi đợt thu được 50-60kg dế, bán với giá 150.000 đồng/kg. Nhờ mô hình kết hợp này, anh Tài vừa có nguồn thức ăn sạch cho tắc kè, vừa có thêm thu nhập từ việc bán dế thương phẩm.
Nhờ mô hình nuôi tắc kè kết hợp nuôi dế thương phẩm mang lại cho gia đình anh thu nhập khoảng 50 triệu đồng/năm sau khi trừ chi phí.
Còn ở huyện Phú Xuyên, TP.Hà Nội, chị Nguyễn Thị Lệ chọn nuôi tắc kè gai đen và mang lại thu nhập ổn định. Theo chị Lệ tâm sự việc nuôi tắc kè tương đối đơn giản, chi phí đầu tư thấp. Thức ăn chủ yếu là các loại côn trùng như dế, châu chấu, giun… đều dễ tìm ở địa phương. Về chuồng trại cũng không tốn nhiều về diện tích hay vật liệu, do đó không cần đầu tư vốn nhiều.
Quá trình chăm sóc không đòi hỏi kỹ thuật cao, phù hợp với điều kiện nông thôn. Tắc kè cũng có thể mắc bệnh, nhưng không xảy ra dịch lây lan diện rộng. Nhờ đặc tính này, mô hình nuôi tắc kè trở thành lựa chọn an toàn, hiệu quả và ít rủi ro cho người nông dân.
Theo chị Lệ, tắc kè có tuổi thọ lên đến 10 năm và nhu cầu sử dụng loài này ngày càng cao. “Mỗi con tắc kè mẹ có thể đem lại từ 1 đến 2 triệu đồng. Với giá trị bền vững của nó, tắc kè là loài động vật có tiềm năng kinh tế lâu dài”, chị khẳng định.
Tắc kè - loài bò sát tưởng như chỉ là nỗi sợ của bao người, giờ đây lại lột xác trở thành “vật nuôi đổi đời” của không ít nông dân. Nhờ đặc tính dễ nuôi, chi phí đầu tư thấp, hiệu quả kinh tế cao và đầu ra ngày càng mở rộng, mô hình nuôi tắc kè đang chứng minh rằng chỉ cần nhạy bén và dám thử sức, người nông dân hoàn toàn có thể làm giàu từ những con vật sở hữu vẻ ngoài sần sùi, đáng sợ.