Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ

Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống.

Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.

Trong khuôn khổ đợt tập huấn diễn ra từ ngày 19 đến 29/10/2026 theo Kế hoạch số 152-KH/BTGTU ngày 9/9/2026 của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lào Cai, chương trình “Người bản số” được khai mạc ngày 19/10 tại phường Lào Cai và các xã Yên Bình, Cao Sơn, Bát Xát. Đồng chí Lê Xuân Trường, Phó Bí thư Chi bộ, Chánh Văn phòng Hội Mã số Mã vạch Việt Nam, tham gia giảng dạy với vai trò giảng viên chính tại xã Cao Sơn trong hai ngày 19–20/10 và xã Võ Lao trong hai ngày 21–22/10.

Học viên tại lớp tập huấn mô hình “Người bản số” ở xã Cao Sơn
Học viên tại lớp tập huấn mô hình “Người bản số” ở xã Cao Sơn

Tại lễ khai mạc lớp tập huấn ở xã Yên Bình, đồng chí Đoàn Thị Thanh Tâm, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lào Cai, đã tham dự và phát biểu chỉ đạo, nhấn mạnh yêu cầu đội ngũ giảng viên, trợ giảng bám sát thực tiễn địa phương.

Đồng chí Lê Xuân Trường, Phó Bí thư Chi bộ, Chánh Văn phòng Hội Mã số Mã vạch Việt Nam, tham gia giảng dạy tại xã Cao Sơn.
Đồng chí Lê Xuân Trường, Phó Bí thư Chi bộ, Chánh Văn phòng Hội Mã số Mã vạch Việt Nam, tham gia giảng dạy tại xã Cao Sơn.

Thay đổi cách đào tạo thông thường khi khai mở lớp học tại Cao Sơn, Giảng viên Lê Xuân Trường đặt câu hỏi để khơi gợi học viên nêu những việc người dân thường nhờ học viên hỗ trợ những nội dung gì trên điện thoại. Cách bắt đầu ấy đưa nhu cầu ở thôn bản vào nội dung trao đổi. Gửi ảnh nông sản cho khách, tìm hồ sơ của một thủ tục hay nhận biết yêu cầu chuyển tiền đáng ngờ đều có thể trở thành tình huống để học và thực hành.

Bộ học liệu gồm 8 bài giảng được sử dụng làm học liệu kết nối các nội dung: vai trò Người bản số; thiết bị và Internet; an toàn số; dịch vụ công; thanh toán điện tử; ứng dụng trong kinh doanh, y tế, giáo dục; trí tuệ nhân tạo; truyền thông cộng đồng và báo cáo. Mối liên hệ giữa các nội dung giúp hình thành một chuỗi năng lực: sử dụng được công cụ, biết kiểm tra thông tin và có thể hỗ trợ người khác cùng thực hiện.

Tại Cao Sơn, Võ Lao, nội dung về những việc Người bản số nên làm và không làm được trình bày cùng phần trao đổi trực tiếp với học viên. Người hỗ trợ cần hướng dẫn người dân tự đăng nhập, tự kiểm tra và tự xác nhận; giữ đúng giới hạn khi tiếp cận tài khoản, mật khẩu, mã xác thực và giấy tờ cá nhân. Năng lực hướng dẫn vì thế phải đi cùng ý thức bảo vệ người được hỗ trợ.

Trong thanh toán điện tử, mã QR là điểm bắt đầu của một quá trình kiểm tra. Người chuyển tiền cần đối chiếu người nhận, số tiền và mục đích trước khi xác nhận. Người bán cần xem giao dịch trên tài khoản của mình để xác minh tiền đã đến. Sự phân biệt giữa hình ảnh thông báo chuyển khoản và kết quả được kiểm tra trong ứng dụng ngân hàng là một bài học cụ thể về độ tin cậy của bằng chứng số.

Yêu cầu về thông tin đáng tin cậy cũng xuất hiện trong hướng dẫn giới thiệu nông sản. Ảnh cần thể hiện đúng sản phẩm; nguồn gốc, quy cách, giá và điều kiện giao nhận phải rõ ràng. Các thông tin về chứng nhận, chất lượng hay công dụng cần có căn cứ. Qua đó, kỹ năng sử dụng mạng xã hội được gắn với trách nhiệm của người cung cấp thông tin và việc xây dựng niềm tin trong giao dịch.

Với trí tuệ nhân tạo, trọng tâm của học liệu là sử dụng công cụ cùng khả năng kiểm chứng. AI có thể hỗ trợ soạn thông báo, giới thiệu sản phẩm hoặc sắp xếp ghi chép, tạo hình ảnh hay tạo một ấn phẩm truyền thông (Poster) nhưng nội dung tạo ra có thể chứa chi tiết sai, không phù hợp thậm chí có thể lồng ghép những nội dung xuyên tạc, không đúng sự thật. Quy trình kiểm tra nguồn, đối chiếu nguồn chính thống và xác nhận với người có trách nhiệm giúp người học giữ vai trò quyết định. Dữ liệu cá nhân, mật khẩu và mã xác thực phải được bảo vệ trong quá trình sử dụng.

Để những kiến thức này tiếp tục đến với cộng đồng, phương pháp hướng dẫn có ý nghĩa quyết định. Sáu bước trong học liệu bắt đầu bằng việc hỏi nhu cầu, kiểm tra và chuẩn bị, sau đó giải thích ngắn, làm mẫu, để người dân tự thực hiện và kiểm tra kết quả. Hai bước cuối giúp người hướng dẫn nhận biết rõ người học đã làm được đến đâu, còn cần hỗ trợ điều gì.

Trao đổi trực tiếp tại Cao Sơn về những khó khăn khi “Người bản số” hướng dẫn bà con dân tộc không biết tiếng Kinh.
Trao đổi trực tiếp tại Cao Sơn về những khó khăn khi “Người bản số” hướng dẫn bà con dân tộc không biết tiếng Kinh.

Trong vai trò giảng viên chính, đồng chí Lê Xuân Trường trực tiếp đảm nhận việc kết nối các nội dung chuyên môn với yêu cầu hỗ trợ người dân ở cơ sở. Sự chủ động của người cán bộ Hội được thể hiện ở việc đến với địa bàn, tham gia cùng Ban Tổ chức và tập trung vào những kỹ năng để sau khóa tập huấn học viên có thể thành thạo và hướng dẫn lại cho người dân, đồng bào và thôn bản nơi học viên đang sinh sống. Đó là đóng góp cụ thể bằng chuyên môn, thời gian và trách nhiệm đối với cộng đồng.

Đại biểu, giảng viên và học viên tại lớp tập huấn mô hình “Người bản số” ở xã Võ Lao
Đại biểu, giảng viên và học viên tại lớp tập huấn mô hình “Người bản số” ở xã Võ Lao

Hoạt động tại Cao Sơn và Võ Lao cũng cho thấy một hướng phát huy vai trò của Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật. Những vấn đề về dữ liệu, xác minh thông tin, ứng dụng công nghệ và an toàn số được đưa vào các nhu cầu gần gũi của đời sống. Qua sự tham gia của cán bộ Hội, chuyên môn được chuyển thành những hướng dẫn đơn giản, dễ hiểu để phục vụ trực tiếp người dân đặc biệt là đồng bào nơi vùng cao, đồng bào dân tộc còn nhiều thiếu thốn, khó khăn.

Khả năng lan tỏa còn cần được theo dõi bằng kết quả thực chất. Vì vậy, học liệu hướng dẫn ghi nhận số người tự làm được, phân biệt người với lượt tham gia, phản ánh khó khăn và đề xuất hỗ trợ. Việc báo cáo trung thực, có căn cứ tạo điều kiện để hoạt động hướng dẫn tiếp tục được điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu từng địa bàn.

Đối với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam và các hội thành viên, đưa tri thức đến cơ sở cần sự hiện diện, khả năng lắng nghe và phương pháp phù hợp của đội ngũ trí thức. Sự đồng hành của đồng chí Lê Xuân Trường tại hai xã vùng cao là một đóng góp theo hướng đó: giúp kiến thức có cơ hội đi tiếp từ lớp học về thôn bản, trở thành kỹ năng người dân có thể tự sử dụng trong cuộc sống.

Chủ tịch VUSTA Châu Văn Minh tham dự các hoạt động trong khuôn khổ CAFEO 44

GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch VUSTA đã tham dự các hoạt động cấp lãnh đạo trong khuôn khổ Hội nghị Liên đoàn các Tổ chức Kỹ sư ASEAN lần thứ 44 (CAFEO 44).

Sáng ngày 22/10, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch VUSTA, cùng Trưởng đoàn các tổ chức thành viên của Liên đoàn các Tổ chức Kỹ sư ASEAN (AFEO) tham gia hoạt động trồng cây, thể hiện cam kết chung của cộng đồng kỹ sư ASEAN đối với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

VUSTA tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi)

Ngày 22/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội thảo Góp ý dự thảo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi).

Tham dự có các chuyên gia, nhà khoa học, đại diện lãnh đạo một số hội thành viên và đơn vị trực thuộc VUSTA.

Toàn cảnh hội thảo
Toàn cảnh hội thảo

Phát huy vai trò của VUSTA trong hoạt động tư vấn, phản biện giám định xã hội

Đổi mới hoạt động tư vấn, phản biện theo hướng chủ động, thực chất gắn với nhu cầu thực tiễn là yêu cầu đặt ra nhằm phát huy trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN.

Đây là chủ đề thảo luận tại hội thảo vừa được Liên hiệp Hội Việt Nam đã tổ chức sáng nay (22/10) tại Hà Nội. Hội thảo quy tụ các nhà khoa học đến từ hội ngành toàn quốc, các tổ chức khoa học công nghệ trực thuộc. PGS.TS. Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì hội thảo.

Quang cảnh hội thảo
Quang cảnh hội thảo

Đọc nhiều nhất

Tin mới