Ký ức người lính Tây Nguyên về những ngày 30/4 lịch sử

(Kiến Thức) - Chiến dịch Tây Nguyên là chiến dịch mở màn cho cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975, trong ký ức của mình, đại tá Lê Xuân Thư còn nhớ như in những ngày 30/4 lịch sử.

 

Trong không khí cả nước tưng bừng kỷ niệm 44 năm giải phóng mềm Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2019), đại tá Lê Xuân Thư (nguyên sĩ quan Bộ tư lệnh Tây Nguyên, thư ký đại tướng Chu Huy Mân) nhớ về những ký ức ngày 30/4 hào hùng. 
Những ngày tháng 4 của 44 năm trước, đại tá Thư cùng các đồng đội chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên, đây là chiến dịch mở đầu cho cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975.
Chia sẻ với PV Kiến Thức về những ký ức hào hùng, ông Thư nói: "Chiến tranh đã đi qua 44 năm, những trang sử hào hùng đã trở thành ký ức. Những chiến công hiển hách của quân và dân ta lịch sử đã ghi lại đầy đủ thành tư liệu. 
Để có được chiến thắng ngày hôm nay, ngoài những hy sinh xương máu của các chiến sĩ đã ngã xuống, đã để lại một phần thân thể của mình nơi chiến trường thì không thể không kể đến công lao của nhân dân... đặc biệt là của đồng bào Tây Nguyên đối với bộ đội cụ Hồ."
Ky uc nguoi linh Tay Nguyen ve nhung ngay 30/4 lich su
Sơ đồ chiến dịch Tây Nguyên năm 1975 
Nhân ngày kỷ niệm 44 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trong không khí ngày 30/4 lịch sử, đại tá Thư kể lại những tình cảm không thể nào quên trong những năm tháng chiến đấu, đặc biệt là sự giúp đỡ, che trở và hy sinh của đồng bào trong chiến dịch Tây Nguyên, tạo tiền đề mở  ra những trận thắng như chẻ tre để chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. 
Đồng bào nuôi bộ đội 
Đại tá Thư kể: Sau chiến thắng Mậu Thân(1968), Tây Nguyên mất đi sự chi viện của miền Bắc nên liên tiếp 2 năm không có gạo ăn. Trong hội nghị báo cáo công tác hậu cần, ban chỉ huy báo cáo: “Hiện nay lương thực ở trong kho chỉ đảm báo được một tuần. Nên bộ tư lệnh quyết định tất cả các đơn vị và cơ quan phải đi phát lương làm rẫy trồng sắn để ăn còn rau ngô đậu thì dành cho người ốm, thương binh”
Sắn được trồng ở khắp mọi nơi, được chế biến thành nhiều món nào là mài ra để đồ, mài ra để gói bánh trưng sắn …
Sắn ở Tây Nguyên được trồng ra không chỉ nuôi phục vụ lực lượng chiến đấu ở Tây Nguyên mà còn phải cung cấp cho anh em hành quân đường giao liên đi qua. Thời đấy, quy định nghiêm là tất cả đơn vị là nhổ một cây sắn anh phải chặt cây ra để trồng xuống.
Có lần tôi bị sốt rét 41 độ, vào bệnh viện nằm không có cơm, các anh em, y bác sĩ tráng bánh cuốn sắn , hôm đó lại vào dịp mùng 2/9 thế là mỗi người được đĩa bánh cuốn tráng bằng sắn hoặc là được bát lạc mà bệnh viện trồng được ăn tết Độc lập.
Không có muối, mấy anh em đi chở thồ, hành quân qua những cái kho người ta đựng muối để ở trên sàn, muối để lâu bị rỉ nước, anh em xuống hứng nước chảy xuống rồi cho vào cái lọ rồi đến bữa bỏ ra ăn. Nhiều đơn vị anh em phải đốt cỏ chanh xong hòa với nước lọc mà ra vì trong cỏ chanh nó cũng có 1 tỷ lệ muối nhất định.
Ở chiến trường Tây Nguyên thiếu gạo, thiếu muối, thiếu đủ mọi thứ. 
Đặc điểm lớn nhất của Tây Nguyên là sốt rét, không ai vào chiến trường Tây Nguyên mà không sốt rét cả, dù anh có khỏe trẻ như thế nào đi chăng nữa mà hầu như vào chiến trường khi ấy toàn những thanh niên tuổi 19-20 thôi.
Có những đồng chí chưa vào đến đơn vị đi hành quân dọc đường giao liên bị sốt rét chọc hết cả đầu, chống cái gậy lụ khụ như ông già. Sốt rét mỏi quá đi hành quân không theo được kịp đơn vị được, nhiều anh mắc võng lên nằm mà sốt rét ác tính không có thuốc nên là chết mà chết đến hôm sau đơn vị đi tìm thì mối xông đến khoét hết cả 2 mắt, con mối ở Tây Nguyên nó kinh khủng lắm như đốt ngón tay vậy. Ở đây, mối vắt rất nhiều nếu đi đêm nó cứ rào rào ra.
Có những đồng chí sốt rét khát nước thế là xuống suối lấy nước uống thì lăn ra đấy chết, chết thảm thương lắm.
Ky uc nguoi linh Tay Nguyen ve nhung ngay 30/4 lich su-Hinh-2
 Đại tá Lê Xuân Thư (thời còn trẻ)
Khi trinh sát chuẩn bị đánh vào Đức Vinh, Đức Cơ hành quân đi 7 ngày thì 2 ngày đầu là mang một gói cơm nắm ăn 2 ngày, ngày thứ 3 trở đi là ăn bánh trưng gói bằng sắn đến ngày thứ 5 trở đi hết rồi thì ăn bằng gạo rang mà mỗi người đi phía trước thì đều có túi gạo rang (gạo nấu lên thành cơm xong bắt đầu cho vào chảo rang nó khô đi rồi đóng vào túi) để đề phòng khi nào lạc đường hoặc hết lương thực chưa về được đơn vị thì ăn. Nhưng mà ăn thì nó khát nước, mà thời kì đó đóng chốt ở núi Phượng Hoàng tất cả phải đi tìm vào đúng cái mùa khô, sông suối nó đều cạn mà ra sông có nước thì lộ địch nó phát hiện ra thì chết.
May lúc bấy giờ tìm được cái suối cạn, gốc cây cứ rỉ rỉ từng giọt một anh em phải lấy xẻng khoét cào cái vùng đấy ra cho nước dâng lên rồi múc cái đó cho vào bi đông đùm vào túi ni lông mang về. Mang về là mỗi cái bi đông đấy phải cho 2 viên thuốc để khử trùng nhưng cái nước chắt ở trong bùn ra nó tanh nên khi cho thuốc vào nó càng tanh hơn, đặt vào mồm không thể nuốt được nhưng mà lúc đấy giờ khát phải uống. Khổ lắm…!
Có những lần không còn gì để ăn cả, mới tìm được cái bản mà đồng bào người ta bỏ chạy vào rừng lập căn cứ. Chỉ vào chặt buồng chuối xanh để cho vào nồi luộc ăn. Nhưng có một lần, bất chợt gặp địch mải đánh nhau với bên địch đến lúc xong thì có một đồng chí chiến sĩ trúng đạn dựa người vào đống chuối, khẩu súng vẫn cầm trên tay quả chuối luộc bóc rồi mà chưa chưa kịp ăn đã hi sinh.
Anh em phải cõng đồng chí đấy về, cõng 3 ngày thì người cứng lại phải cho vào võng khênh về đơn vị chôn chứ không được chôn ở căn cứ của địch
Mà chôn thì nhiều trường hợp mất tích không tìm lại được xác vì ngày đấy chôn thì chỉ lấy cái xẻng bới bới ra lấp đất lên kín người thế thôi rồi viết một cái sơ đồ mà cái sơ đồ đó chỉ là gốc cây, hướng Nam, hướng Bắc mà mưa của Tây Nguyên thì nó to lắm chỉ một 2 trận mưa là những cái mô đó san phẳng hết không còn gì. Nên sau này nhiều liệt sĩ không tìm thấy mộ cũng vì thế
Tình quân dân như cá với nước
"Đồng bào tốt lắm cho đến giờ vẫn không thể quên được, bộ đội cần gì đồng bào giúp, thiếu gì đồng bào cho nếu như đồng bào có. Có những bản bà con nói: Bộ đội không sợ đói, bộ đôi cứ đánh được thằng giặc, thằng Mỹ nó ác như con thú rừng nếu đánh thắng được thằng Mỹ giành lại được núi rừng, có núi rừng là có tất cả” - đại tá Thư nói.
Đại tá kể tiếp: Trồng được lúa, thu hoạch được gạo thì về cả bản giã gạo xong hôm sau mang ra giúp bộ đội. Có những khu vực đồng bào giành ra hẳn một cái rẫy trồng ngô trồng mướp trồng rau. Đồng bào bảo: “Đây là nương rẫy dành cho bộ đội, bộ đội đi qua cứ vào lấy mà ăn”
Nhưng mà quân đội mình có kỉ luật, không được lấy của dân cho dù người ta nói thế. Có 1 hôm 1 đồng chí đi qua rẫy thì lấy mấy quả mướp của dân thì có người phát hiện được người ta vào người ta báo đơn vị, ông chỉ huy đơn vị mới dẫn đồng chí chiến sĩ đến tận bản gặp ông trưởng bản và gặp gia đình có lương rẫy này để xin lỗi bộ đội có khuyết điểm với dân lấy mướp của đồng bào thì bà ấy vừa khóc: “chính chúng tôi mới là người có lỗi, bởi vì đồng bào không có cho bộ đội ăn đủ chính đồng bòa Tây Nguyên mới là người có lỗi”.
Đại tá Thư nhớ những ngày chiến dịch Tây Nguyên: "Khi đánh nhau với giặc, đồng bào ra giúp đỡ bộ đội gùi súng đạn, gạo... cả bản được huy động ra mặt trận. Hồi đấy, có một bà mẹ vùi 2 quả đầu đạn B40, tay phải dắt thằng bé 4 tuổi, phía trước dìu 1 thằng bé hơn 1 tuổi mang đạn ra bàn giao cho quân đội. Khi bàn giao xong, đồng bào cứ ngồi xung quanh không về hỏi sao người ta không về thì đồng bào bảo: “đồng bào ngồi đây để giúp bộ đội nếu có thương binh thì đồng bào lại giúp bộ đội khênh cán về hậu cứ."
Ky uc nguoi linh Tay Nguyen ve nhung ngay 30/4 lich su-Hinh-3
Đại tá Lê Xuân Thư.
Trước những tình cảm của đồng bào, bộ đội như được tiếp thêm sức mạnh và tinh thần để chiến đấu. Nhờ đó, chiến dịch Tây Nguyên đã chiến thắng vang dội với những trận thắng làm suy sụp hệ thống quân sự của ngụy quân, ngụy quyền như chiến thắng Buôn Ma Thuột... 
Từ những trận thắng mở màn trong chiến dịch Tây Nguyên, các cánh quân của ta đồng loạt nổ súng, làm nên cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đại tá Lê Xuân Thư sinh ngày 22/12/1946, ông nhập ngũ ngày 22/2/1965 khi còn chưa đầy 19 tuổi. Sau khi tham gia chiến dịch Thượng Lào rồi hành quân vào Nam đóng ở trung đoàn 40 trực thuộc B3 Tây Nguyên, năm 1970 ông đi học sĩ quan chính trị đến 1971 ông được cử về Bộ tư lệnh Tây Nguyên cho đến khi giải phóng miền Nam. Sau giải phóng ông tiếp tục tham gia các chiến dịch bảo vệ biên giới Tây – Nam, giải phóng Campuchia, chiến dịch biên giới phía Bắc. Trải qua nhiều chức vụ với nhiều khu vực đóng quân khác nhau. Tới giữa năm 1985 sau khi kết thúc chiến tranh biên giới phía Bắc ông được điều về Bộ trực thuộc Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị và làm thư kí cho Đại tướng Chu Huy Mân. Đến tháng 10/2008 ông nhận quyết định nghỉ hưu kết thúc gần 44 năm quân đội.

Phạm Diệp

>> xem thêm

Bình luận(0)