Những chiến thắng làm thay đổi cục diện lịch sử dân tộc và thế giới

Ở trung tâm của những thắng lợi đó là Quân đội Nhân dân Việt Nam - lực lượng đã thể hiện rõ nét năng lực chiến lược, ý chí quật cường và bản lĩnh cách mạng.

Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 và Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 không chỉ là những mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh giành độc lập, thống nhất của Việt Nam, mà còn là hai sự kiện đã làm thay đổi cục diện chính trị ở khu vực cũng như toàn thế giới. Ở cả hai thời điểm, vai trò quyết định của Quân đội Nhân dân Việt Nam - về chiến lược, tổ chức, tinh thần và nghệ thuật tác chiến - là nhân tố then chốt dẫn tới thắng lợi, tạo nên những hệ quả lịch sử sâu rộng

Điện Biên Phủ 1954 bước ngoặt chấm dứt chủ nghĩa thực dân kiểu cũ

Sự kiện đầu tiên, Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, được lịch sử thế giới ghi nhận như dấu mốc kết thúc sự hiện diện thực dân Pháp ở Đông Dương, mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ trên toàn cầu. Sau nhiều năm kháng chiến, Quân đội Nhân dân Việt Nam, dưới sự chỉ huy sáng suốt của Đảng, đã biến Điện Biên Phủ từ một “pháo đài không thể công phá” trở thành một cái bẫy chiến lược dành của đối phương. Nghệ thuật tác chiến của Quân đội Nhân dân Việt Nam thể hiện ở sự kết hợp chặt chẽ giữa binh lực, pháo binh, công binh và hậu cần; ở việc vận động, bố trí lực lượng và phương tiện vượt núi, đưa pháo vào các sườn đồi để khống chế sân bay; ở khả năng tổ chức khép kín vòng vây và tiến hành những trận đánh quyết định. Hơn hết, những người chiến sĩ Bộ đội Cụ Hồ đã thể hiện tinh thần kiên trì, sáng tạo và ý chí hy sinh vì độc lập dân tộc - yếu tố làm nên sức mạnh vượt qua mọi nghịch cảnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Đồi A1, nơi diễn ra trận đánh ác liệt nhất trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh: Quốc Lê.

Về tác động quốc tế, Chiến dịch Điện Biên Phủ thúc đẩy tiến trình đàm phán dẫn tới Hiệp định Genève (1954) - đặt dấu chấm hết cho chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương, mở đường cho phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á và châu Phi. Thắng lợi này làm lung lay niềm tin của các cường quốc thực dân về sự cai trị vĩnh viễn trên các mảnh đất thuộc địa, đồng thời đưa thế giới bước vào một giai đoạn mới của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân.

Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, đỉnh cao giải phóng, thống nhất đất nước

21 năm sau, Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 tạo nên một cột mốc trọng đại mới trong lịch sử Việt Nam và thế giới. Khác với chiến thắng năm 1954 về quy mô và bối cảnh, sự kiện diễn ra cuối mùa xuân năm 1975 mang tính quyết định trong việc kết thúc cuộc chiến chống đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước. Trong sự kiện này, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tiến hành một chiến dịch tổng hợp, nhanh, mạnh và chính xác, kết hợp tác chiến quy ước với chiến tranh cách mạng; huy động binh lực, xe tăng, pháo binh, không quân phối hợp hành động; đồng thời tiến hành mạnh mẽ công tác tuyên truyền, chính trị làm tan vỡ ý chí chiến đấu của đối phương. Sự nhạy bén trong chỉ huy, khả năng điều động lực lượng cơ động, phối hợp liên quân binh chủng và sự chuẩn bị hậu cần chu đáo đã tạo điều kiện cho những mũi tiến công xung kích xuyên thẳng vào thủ phủ của chế độ Sài Gòn. Chiến thắng này khẳng định tính đúng đắn của đường lối chiến lược, nghệ thuật quân sự và phương pháp đấu tranh dựa trên sức mạnh của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Dinh Độc Lập, nơi chứng kiến thời khắc quan trọng nhất của Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Ảnh: Quốc Lê.

Chiến thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 có ý nghĩa địa chính trị quốc tế to lớn: Chấm dứt sự can thiệp quân sự trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam, làm thay đổi cán cân lực lượng trong khu vực Đông Nam Á và góp phần thúc đẩy xu hướng chấm dứt sự can thiệp quân sự của các cường quốc Phương Tây vào các nước thế giới thứ ba trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Trong cả hai thắng lợi vĩ đại của thế kỷ 20, vai trò của Quân đội Nhân dân Việt Nam không chỉ nằm ở khả năng tác chiến quân sự thuần túy mà còn biểu hiện ở tư duy chiến lược toàn diện: Kết hợp chính trị - quân sự - ngoại giao; dựa vào dân; phát huy sức mạnh toàn dân; đồng thời kiên định mục tiêu độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Quân đội đã trở thành lực lượng trung tâm dẫn dắt phong trào cách mạng, vừa là lực lượng đánh địch, vừa là lực lượng xây dựng hậu phương cách mạng, đảm bảo nguồn lực và ý chí cho những bước tiến quyết định. Kỷ luật, tổ chức và bản lĩnh chiến đấu của người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tạo nên lợi thế chiến trường áp đảo sức mạnh về vũ khí - khí tài và tài chính của các thế lực can thiệp.

Bên cạnh thành tựu quân sự, hai chiến thắng này còn có giá trị biểu tượng sâu sắc khi chứng minh rằng các dân tộc nhỏ bé, có tinh thần độc lập và chiến lược đúng đắn, có thể đánh bại các cường quốc có tiềm lực khổng lồ về quân sự – một thông điệp mạnh mẽ cho phong trào giải phóng dân tộc trên toàn cầu. Đồng thời, các sự kiện cũng đặt ra bài học cho công tác xây dựng lực lượng vũ trang: Cần kết hợp nghệ thuật quân sự hiện đại với tinh thần dân tộc và sức mạnh của quần chúng.

Có thể khẳng định, Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 và Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 là hai bước ngoặt lịch sử đã làm thay đổi cục diện không chỉ của dân tộc Việt Nam mà còn của khu vực và thế giới. Ở trung tâm của những thắng lợi đó là Quân đội Nhân dân Việt Nam - lực lượng đã thể hiện rõ nét năng lực chiến lược, ý chí quật cường và bản lĩnh cách mạng. Những dấu son lịch sử ấy không chỉ là niềm tự hào dân tộc, mà còn là di sản quý báu về nghệ thuật quân sự, bản lĩnh dân tộc và tinh thần tận hiến cho Tổ quốc, là ánh sáng tiếp tục soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời đại mới.

Quy tập hai bộ hài cốt liệt sỹ kèm di vật thời chiến tại Khe Sanh

Cùng với hai bộ hài cốt liệt sĩ, đội công tác tìm thấy nhiều di vật như tăng nguyên tấm, vải dù, dây dù, cúc áo, đế giày, khuy giày, mắt nịt, nắp hộp dầu...

Chiều 2/11, Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 337 (Quân khu 4) cho biết đơn vị đã phát hiện và quy tập được 2 hài cốt liệt sĩ tại xã Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị. Cụ thể, trong khoảng thời gian từ ngày 21/10 đến 2/11, Đội Quy tập hài cốt liệt sĩ tiến hành tìm kiếm tại thôn Xa Re, xã Khe Sanh và cất bốc được 2 hài cốt ở độ sâu từ 0,8 đến 1 mét.

Các hài cốt được phát hiện vẫn được bọc trong bao tử sĩ, bên trong còn nhiều mảnh xương. Cùng với đó, đội công tác tìm thấy nhiều di vật như tăng nguyên tấm, vải dù, dây dù, cúc áo, đế giày, khuy giày, mắt nịt, nắp hộp dầu, lọ thủy tinh và dây thông tin.

Không có số lùi, tuổi 20 của những nữ lái xe vượt lửa Trường Sơn

Giữa mưa bom, bão đạn, Trung đội nữ lái xe Trường Sơn đã hoàn thành hàng nghìn chuyến xe với hàng vạn tấn hàng hóa, vận chuyển hàng trăm ngàn lượt bộ đội và thương binh... góp phần làm nên chiến thắng lịch sử 30/4/1975.

Giữa tuyến lửa Trường Sơn huyền thoại, nơi "mưa bom bão đạn" tưởng chừng chỉ dành cho những tay lái gang thép, có một đơn vị đặc biệt đã đi vào lịch sử - Trung đội nữ lái xe mang tên anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Thị Hạnh (sau là Đại đội nữ lái xe Trường Sơn C13) - đại đội nữ lái xe duy nhất của quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Tăng M24 - “mãnh thú” của Pháp bị bộ đội ta chặt móng vuốt

Từng là niềm tự hào của quân đội Pháp với hỏa lực mạnh và tốc độ linh hoạt, xe tăng M24 Chaffee được kỳ vọng sẽ xoay chuyển cục diện tại Điện Biên Phủ.

Tăng M24 - “mãnh thú” của Pháp bị bộ đội ta chặt móng vuốt như thế nào?

Các tướng lĩnh Pháp hiểu rõ đối thủ chỉ là lực lượng bộ binh nhẹ, thiếu thốn vũ khí và hoàn toàn không có phương tiện chiến đấu cơ giới. Họ tin rằng nếu đưa được lực lượng xe thiết giáp lên cụm cứ điểm, Việt Minh sẽ bị chặn đứng nếu dám tấn công vào các lô cốt vững chắc, sau đó sẽ bị quân Pháp tinh nhuệ có thiết giáp hỗ trợ đẩy lui.

Nhưng xe thiết giáp bánh lốp phổ biến trong biên chế quân viễn chinh Pháp khi đó gặp khó khăn khi di chuyển trên địa hình bùn lầy tại Điện Biên Phủ, đặc biệt trong mùa mưa. Chỉ có xe tăng bánh xích mới có đủ tính cơ động. Điều này khiến xe tăng hạng nhẹ M24 do Mỹ viện trợ trở thành lựa chọn tối ưu cho Pháp ở Mặt trận Điện Biên Phủ.

Ra đời vào cuối Chiến tranh thế giới thứ hai, xe tăng M24 “Chaffee” của Mỹ được ưa chuộng do cơ động tốt trên địa hình phức tạp, hỏa lực mạnh so với xe tăng hạng nhẹ khi mang pháo cỡ nòng 75mm, rất hiệu quả trong nhiệm vụ chi viện hỏa lực cho bộ binh.

Tang M24 - “manh thu” cua Phap bi bo doi ta chat mong vuot

Binh lính Pháp dỡ thân xe tăng M24 khỏi một chiếc Bristol 170 Freighter tại Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu

Kíp lái của xe tăng M24 gồm 5 người. Khi chiến đấu, trưởng xe, pháo thủ và điện đài viên có thể tham gia chế áp bộ binh do xe mang đến 3 súng máy. Với hỏa lực mạnh như vậy, người Pháp cho rằng xe tăng M24 là đủ để đẩy lui các đợt tấn công xuống lòng chảo của quân đội Việt Minh.

Ngày 16/12/1953, chiến dịch “Rondelle II” được Pháp tiến hành, sử dụng không quân đưa 10 xe tăng M24 lên Điện Biên Phủ. Số xe tăng này chia thành 3 phân đội của đại đội 3, thuộc trung đoàn kỵ binh nhẹ số 1. Binh lính trong binh đoàn lê dương Pháp đặt tên cho những chiếc xe tăng này theo các địa danh ở châu Âu, như một cách để nhớ về quê nhà.

Do mỗi chiếc xe tăng nặng tới gần 20 tấn, không máy bay nào của Pháp lúc đó đủ không gian và tải trọng để mang nổi. Binh lính của đại đội 2 sửa chữa thiết giáp, thuộc binh đoàn lê dương phải tháo rời từng chiếc xe thành 180 bộ phận khác nhau tại xưởng dã chiến ngay trong sân bay Gia Lâm (Hà Nội).

Tuy nhiên, kể cả sau khi đã tháo rời, máy bay vận tải C-47 của không quân Pháp lúc đó không đủ chỗ để vận chuyển thân xe-phần có kích thước to lớn nhất. Người Pháp phải trưng dụng máy bay vận tải dân sự hạng nặng Bristol 170 Freighter, nhưng khối lượng thân xe vẫn vượt quá tải trọng tối đa của máy bay đến 150kg. Để chở “kiện hàng” đặc biệt qua vùng rừng núi Tây Bắc, người Pháp phải tháo bỏ gần như toàn bộ những nội thất không cần thiết bên trong máy bay. Mỗi chiếc M24 cần tới 2 chuyến Freighter và 6 chuyến C-47 để đưa lên Điện Biên Phủ.

Tới cuối năm 1953, toàn bộ 10 chiếc M24 được vận chuyển thành công lên cụm cứ điểm. Chúng có nhiệm vụ dẫn đầu các đơn vị quân đội Pháp phản công hoặc bố trí trong công sự như lô cốt, dùng đạn pháo 75mm nổ mảnh và súng máy bắn yểm trợ. Với việc bố trí thành công lực lượng xe thiết giáp có sức cơ động và hỏa lực cực mạnh này, người Pháp tin rằng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là bất khả xâm phạm và quân đội Việt Minh đã thua trước cả khi trận đánh diễn ra.

Trong suốt chiến dịch, 10 chiếc xe tăng M24 đã bắn tổng cộng hơn 15.000 phát đạn pháo. Do mỗi xe chỉ mang 48 viên đạn, binh lính Pháp tìm cách nhét đạn vào mọi vị trí có thể trên xe, thậm chí tháo bỏ cả súng máy. Nhưng những nỗ lực phản công do xe tăng M24 dẫn đầu đã không đạt được bước tiến nào đáng kể do đánh giá thấp lượng pháo Việt Minh mang đến chiến trường.

Tang M24 - “manh thu” cua Phap bi bo doi ta chat mong vuot-Hinh-2

Xe tăng M24 mang tên Charfee, do các hãng sản xuất vũ khí Mỹ chế tạo. Dòng xe này được đặt tên theo tên của Thiếu tướng Lục quân Mỹ Adna R. Chaffee, Jr., người được mệnh danh là "Cha đẻ của lực lượng thiết giáp Mỹ”. Ảnh Tuấn Anh- báo Sức khỏe đời sống

Quân Pháp đối mặt với hệ thống hầm hào dày đặc, kiên cố. Những nỗ lực phản công của Pháp biến thành tấn công vào các vị trí được phòng thủ vững chắc, có vũ khí chống tăng uy hiếp những chiếc tăng M24. Thất bại trong việc phản công, lúc này “nắm đấm thép” của quân Pháp như chỉ còn đấm vào không khí.

Sau khi vòng vây siết chặt đến phân khu trung tâm Mường Thanh, số xe tăng M24 phần bị bắn hỏng, phần không còn nơi để cơ động, chỉ còn tác dụng làm ổ đề kháng cố định. Nhưng ngay cả khi trú ẩn trong công sự, pháo của Việt Minh vẫn bắn chính xác vào vị trí từng chiếc xe. Toàn bộ số xe tăng M24 bị loại khỏi vòng chiến đấu hoặc bị thu làm chiến lợi phẩm khi trận chiến kết thúc.

Sau chiến thắng, bộ đội ta tổ chức một chiến dịch khác, vận chuyển hai chiếc M24 còn hoạt động được về Hà Nội. Lần này, hai chiếc xe tăng lại được tháo rời, đưa về trên xe tải, sau đó được lắp ráp lại và tham gia diễu binh ngày 2/9/1955, kỷ niệm 10 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Đọc nhiều nhất

Tin mới