Vị tướng tài có “thần nhãn” khiến cọp dữ cúp đuôi bỏ chạy

Tên tuổi của vị tướng tài này gắn với giai thoại “quắc mắt khiến hổ phải sợ”, và chính bởi giai thoại đó mà người dân tôn sùng gọi ông là Tăng Bạt Hổ.

Tăng Bạt Hổ- một danh nhân nước Việt - tên thật là Tăng Doãn Văn, hiệu Điền Bát, bí danh Lê Thiệu Dần, sanh năm Mậu Ngọ (1858), tại làng An Thường, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Vị tướng tài này là tấm gương kiên trung của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc từ nửa sau thế kỷ XIX.
Khí phách của “con hổ rừng già”
Nhìn lại một chặng đường lịch sử chiến đấu và chiến thắng kẻ thù của dân tộc ta từ hơn một thế kỷ qua, chúng ta ghi nhận rất nhiều tấm gương chiến sỹ kiên trung đã giành cả cuộc đời cho tổ quốc. Tăng Bạt Hổ là một trong những tấm gương đó. Trong quá trình hoạt động cách mạng cứu nước của mình, Tăng Bạt Hổ đã cùng các đồng chí của mình sáng lập ra Duy Tân Hội với tôn chỉ: “đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục Việt Nam, thành lập nước quân chủ lập hiến, và vạch ra kế hoạch tiến hành, trong đó có vấn đề “cầu ngoại viện”.
Đầu năm 1905, Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu cùng các đồng chí của mình vượt biển sang Nhật Bản “cầu viện”. Việc không thành, các đồng chí trong Duy Tân Hội lập tức chuyển thành “cầu học” và kịp thời phát động một phong trào tuyển chọn thanh niên yêu nước qua Nhật Bản học tập, đào tạo nhân tài để chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước “Việt Nam mới” văn minh tiến bộ. Phong trào này gọi là phong trào Đông Du.
Những hoạt động trong những năm đầu thế kỷ 20 của các chiến sỹ trong phong trào Đông Du nói chung và Tăng Bạt Hổ nói riêng rất sôi động nên liên tục bị thực dân Pháp tìm cách ngăn chặn, và phong trào Đông Du bị thất bại có nguyên nhân chính từ đó. Tuy không thành nhưng phong trào Đông Du mà trong đó Tăng Bạt Hổ được xem là một nhân vật hướng đạo luôn được dân tộc Việt Nam tôn vinh là tấm gương của truyền thống đấu tranh giải phóng dân tộc nối liền giai đoạn cần vương chống Pháp thất bại đến với giai đoạn chống Pháp thắng lợi.
Vi tuong tai co “than nhan” khien cop du cup duoi bo chay
 Chân dung nhân sĩ Tăng Bạt Hổ.
Bước vào thời kỳ cận đại, một lần nữa nền độc lập và chủ quyền của nước ta được đánh đổi bằng xương máu của biết bao nhiêu thế hệ lại được đem ra thử thách. Từ tiếng súng đầu tiên thực dân Pháp nổ ở Đà Nẵng năm 1858 cho đến nửa đầu thế kỷ XX, gần một trăm năm với rất nhiều hi sinh mất mát, với những đấu tranh không ngừng để sửa chữa và khắc phục sai lầm, chúng ta đã giành được độc lập, trước một đối thủ có tiềm lực mạnh hơn gấp nhiều lần. Có thể nói, chưa có thời điểm nào, bộ mặt chính trị nước ta lại sôi động và phức tạp đến như thế. Sự thay thế lẫn nhau của các khuynh hướng dưới tác động của nhiều luồng tư tưởng trong và ngoài nước đã tạo nên một diện mạo mới cho cách mạng Việt Nam.
Trong số những con đường giải phóng dân tộc ấy, có một con đường thoạt nhìn thì có vẻ hơi khác so với truyền thống đánh giặc giữ nước được bồi đắp suốt chiều dài lịch sử, song về cơ bản, vẫn là một bộ phận của dòng chảy tư tưởng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Đó là con đường canh tân đất nước, đổi mới tư duy mà đại diện tiêu biểu là dòng canh tân của các sĩ phu yêu nước, một trong những đại biểu xuất sắc là Tăng Bạt Hổ. Tăng Bạt Hổ, tên của ông gắn liền với một giai thoại lý thú, nói lên bản lĩnh của ông lúc chưa đầy 30 tuổi:
“Thiên nhãn” phi thường
Tháng Giêng năm Đinh Hợi - 1897, sau ngày chiến đấu chống bọn thực dân Pháp và bọn tay sai phản động không thành, ông tìm đường sang Thái Lan cầu viện, cứu nước. Khi đi đến đèo Dốc Đót, giáp giới cao nguyên An Khê - Bình Định, ông gặp một con cọp chặn giữa đường, mấy người theo ông ai cũng lo, có người run như cầy sấy. Tăng không chút sợ hãi, nhìn thẳng vào con cọp. Cọp phải tránh sang một bên cho ông và các người cùng đi qua đèo. Từ đó, các người cùng đi tôn ông là Tăng Bạt Hổ.
Câu chuyện "bạt hổ" của Tăng được truyền tụng trong dân gian, nơi làng quê Bình Định, vốn giàu truyền thống yêu nước, bất khuất. Con đường cứu nước của ông, với hành trang ngót 30 năm trên chiều dài đất nước, từ miền Trung Trung Bộ ra Hà Nội, lên Sơn Tây, Cao Bằng và đến tận Thái Lan, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản xa xôi, để lại biết bao kỷ niệm và nghĩa tình sâu lắng trong nhân dân trên mọi miền đất nước và bầu bạn xa gần từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 đến nay.
Thông minh, hiếu học, tuổi mới 14, 15 mà Tăng Bạt Hổ đã nổi tiếng là “bụng chứa đầy sách”. Nhưng ghét lối văn cử tử mà người đương thời đua nhau rèn luyện để chờ khoa xuân, khoa thu, nên ông dùng thì giờ rèn văn để luyện võ. Ông có sức mạnh phi thường. Lúc mới 11, 12 tuổi mà đã vác được một khúc gỗ hai người khiêng, nhảy được qua hàng rào cao lút đầu với hai thùng nước xách hai tay. Ông giỏi quyền thuật, lại sở trường về kiếm.
Chí sĩ Tăng Bạt Hổ là một nhân vật tiêu biểu trong phong trào yêu nước chống Pháp vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, người Bình Định không phải ai cũng biết là mộ phần của ông hiện nằm ở Bến Ngự (thành phố Huế), trong khuôn viên vườn nhà và mộ phần Phan Bội Châu. Ngay trên đỉnh dốc Bến Ngự là khu vườn nhà và lăng mộ của Sào Nam Phan Bội Châu. Nơi đây có mộ, ngôi nhà tranh và nhà thờ Phan Bội Châu cùng bức tượng cụ Phan đúc bằng đồng. Nằm sát cổng chính của khu vườn, là ngôi mộ nhà chí sĩ yêu nước Tăng Bạt Hổ nằm yên bình, dưới những bóng cây. Mộ xây gạch, có tường bao, nhuốm màu thời gian, bên trong là một tấm bia bằng chữ Hán, ngoài có tấm biển: “Lăng mộ Tăng Bạt Hổ”.
Vi tuong tai co “than nhan” khien cop du cup duoi bo chay-Hinh-2
 Đền thờ Tăng Bạt Hổ ở Bình Định.
Tăng Bạt Hổ mất ở Huế thì ai cũng rõ, sách nào cũng viết, nhưng tại sao mộ phần ông lại được táng ở trong khu vườn nhà và lăng mộ Phan Bội Châu? Trong khi đó, tập san kỷ niệm 30 năm giải phóng Hoài Ân lại viết: "Mộ phần ông (Tăng Bạt Hổ) hiện nay nằm ở Hương Trà". Hồi ký Tự phán của Phan Bội Châu viết: "Mùa xuân năm Bính Ngọ (1906), ông (Tăng Bạt Hổ) tự Bắc Kỳ chạy khắp khoảng Thanh, Nghệ, Tịnh, Bình, ngày nghỉ đêm đi sức hao lòng mỏi.
Mùa đông năm ấy, đến Kinh Huế nào ngờ ông xanh xao quá, việc chẳng như lòng, kịp đến nhà cụ Võ ở An Hòa (Huế) bệnh phát nặng. Cụ Võ (Võ Bá Hạp, người đồng chí của Phan Bội Châu) vì giữ tai mắt người ngoài, thuê một thuyền con đậu dưới bến, khuya sớm phụng dưỡng ông, mới có vài tuần mà ông đã tạ thế trong thuyền". Theo khảo sát của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, sau khi cụ Tăng Bạt Hổ mất, cụ Cử Võ cùng các đồng chí đồng sự đã đem táng thi hài cụ Tăng trên một gò cao thuộc ấp Thế Lại Thượng.
Năm 1956, cụ Lê Ngọc Nghị, một nhân sĩ đã cùng với một số hậu duệ các bậc tiền bối hợp tác cùng thân hào xã Thế Lại Thượng tổ chức lễ truy điệu và cải táng hài cốt Tăng Bạt Hổ lên chôn tại khu vườn nhà và lăng mộ Sào Nam Phan Bội Châu như hiện nay. Cũng cần nói thêm về khu vườn này. Đây nguyên là nơi ở của cụ Phan Bội Châu trong suốt 15 năm cụ bị giam lỏng ở Huế (từ 1925 đến 1940). Tiền mua đất và dựng nhà do đồng bào cả nước góp. Khi mất, cụ Phan được cụ Huỳnh Thúc Kháng và các nhà yêu nước đương thời táng ngay trong vườn nhà. Đồng thời, ngay bên cạnh ngôi nhà tranh của cụ, cụ Huỳnh làm thêm một ngôi nhà nhỏ để thờ cụ Phan.
Sau cuộc kháng chiến chống Pháp, những người còn tưởng nhớ đến cụ Phan đã thành lập một ủy ban xây dựng nhà thờ cụ Phan do bác sĩ Thân Trọng Phước đứng đầu. Tháng 10 năm 1956, công việc xây dựng hoàn tất. Những người có trách nhiệm thời bấy giờ đã đưa tên tuổi các nhà yêu nước khác trong phong trào chống Pháp khởi đầu từ Thủ khoa Huân, Trương Định, cho đến các nhà yêu nước trong phong trào Cần Vương, văn thân Đông Du, khởi nghĩa Thái Nguyên, Yên Bái… vào thờ chung với Phan Bội Châu và nhà thờ cụ Phan trở thành Nhà thờ Việt Nam Liệt sĩ cách mạng và Phan Bội Châu tiên sinh. Cụ Tăng Bạt Hổ, một chí sĩ của phong trào Cần Vương và Đông Du, nên hài cốt cũng được đưa về táng ở đây.
Theo Gia Bảo/Ngày nay

Bình luận(0)