Dịch bệnh ám ảnh nhà Thanh trong nhiều thập kỷ

Dịch bệnh đáng sợ này từng tước đi tính mạng của không ít nhân vật trong hoàng tộc nhà Thanh, trong đó có cả một vị Hoàng đế.

Vào thời nhà Thanh, từng có một dịch bệnh khiến thường dân bách tính lẫn hoàng tộc quan lại đều không khỏi khiếp sợ. Thậm chí, bệnh dịch này đã từng tước đoạt đi sinh mệnh của nhiều hoàng tử, công chúa và cả Hoàng đế Thanh triều.

Đó chính là đậu mùa, căn bệnh còn được cổ nhân gọi bằng cái tên "Thiên hoa".

Nguyên nhân khiến đậu mùa trở thành nỗi ám ảnh của Thanh triều trong suốt một thời kỳ

Dich benh am anh nha Thanh trong nhieu thap ky

Dự vương Đa Đạc - một trong những tướng lĩnh kiệt xuất thời kỳ đầu Thanh triều - cũng là nạn nhân trong hoàng tộc nhà Thanh qua đời vì đậu mùa. (Ảnh chân dung Đa Đạc và hình tượng trên màn ảnh: Nguồn Baidu).

Sử cũ ghi lại, vào tháng 1 năm Thuận Trị thứ 6, cũng là vào mùa xuân thứ 5 kể từ khi Mãn Thanh làm chủ Bắc Kinh, một trận đại dịch đậu mùa đáng sợ đã xảy ra trong kinh thành, khiến cho Tử Cấm Thành bị bao trùm bởi bầu không khí lo sợ, hoảng loạn.

Ngày 30 tháng giêng năm đó, Nhiếp Chính vương Đa Nhĩ Cổn hạ lệnh: Phàm là bách tính sống trong thành mà chưa mắc bệnh đều phải tuân theo chính sách phòng chống bệnh dịch của triều đình, di tản ra khỏi phạm vi 20 dặm ngoài thành.

Lúc đó, bất kể là hoàng tộc đại thần hay thường dân bách tính đều nhanh chóng tìm nơi để tránh bệnh. Ngay tới cả Hoàng đế Thuận Trị cũng phải dời tới Nam Uyển.

Mặc dù đã áp dụng đủ mọi biện pháp phòng tránh, thế nhưng đậu mùa vốn là căn bệnh có sức lây lan nhanh chóng. Đặc biệt là vào thời kỳ có ít phương pháp chữa trị hiệu quả như khi đó, căn bệnh này càng trở nên khó kiểm soát.

Tới tháng 3 cùng năm, chú ruột của Thuận Trị đế là Dự vương Đa Đạc trải qua mấy chục ngày bị bệnh tật hành hạ cũng đã qua đời.

Điểm đáng nói nằm ở chỗ, Đa Đạc chính là vị tướng kiệt xuất được Càn Long sau này ca ngợi là người đứng đầu trong số những vương gia có công khai quốc.

Ông sở hữu cơ thể khỏe mạnh, hơn nữa còn được hưởng điều kiện chữa bệnh tốt nhất của hoàng tộc, thế nhưng cuối cùng vẫn không chống chọi được trước căn bệnh này, sau đó qua đời khi đương độ tráng niên ở tuổi 36.

Từ đó có thể thấy, vào thời phong kiến, đậu mùa là một căn bệnh vô cùng đáng sợ đối với cổ nhân. Ngay tới những mãnh tướng kinh qua chiến trận cũng khó tránh khỏi bị bệnh tậtđánh bại.

Dich benh am anh nha Thanh trong nhieu thap ky-Hinh-2

Trước khi Thanh triều lên nắm quyền, người Hán đã trải qua nhiều thế kỷ phải chiến đấu trước sự hoành hành của đậu mùa. (Ảnh minh họa: Nguồn Internet).

Thực tế, tổ tiên của Mãn tộc khi xưa vốn chưa từng phải đối mặt với loại bệnh này. Bởi trước kia họ sinh sống chủ yếu ở khu vực Đông Bắc, thời tiết lạnh tới mức khắc nghiệt khiến mầm bệnh khó sống sót và truyền nhiễm.

Cho tới những năm cuối thời nhà Minh, người đời vẫn còn lưu truyền câu nói "Bắc Lỗ bất xuất đậu", ý là những khu vực của các tộc người Mông Cổ và người Mãn không có bệnh đậu mùa.

Theo nhiều nguồn sử liệu ghi chép, căn bệnh trên xuất hiện lần đầu tại Trung Hoa vào khoảng năm 250 trước Công nguyên.

Trải qua cả ngàn năm chiến đấu với nó, người Hán ở Trung Nguyên mặc dù đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm đối phó với dịch bệnh, nhưng tỷ lệ tử vong của người mắc vẫn ở mức 30 – 40%.

Cho nên đối với những người lần đầu tiếp xúc với đậu mùa như người Mãn, họ vừa không có sức đề kháng, vừa không có kinh nghiệm đối phó, tỷ lệ tử vong vì vậy mà lên tới 80 – 90%.

Vì vậy không khó hiểu khi căn bệnh này đã trở thành nỗi ám ảnh, là "tai họa ngập đầu" trong mắt Thanh triều.

Lựa chọn đúng người kế nghiệp: Yếu tố giúp nhà Thanh xóa sổ nỗi lo về đại dịch

Dich benh am anh nha Thanh trong nhieu thap ky-Hinh-3

Hoàng đế Thuận Trị cũng là một trong những nạn nhân của hoàng tộc nhà Thanh vong mạng vì đậu mùa. (Tranh chân dung Thuận Trị đế: Nguồn Baidu).

Trước khi Mãn Thanh nhập quan, để tránh bệnh lây lan, Hoàng Thái Cực luôn giao cho các Bối lặc đã từng khỏi đậu mùa cầm binh, đồng thời cũng thường tránh xuất binh vào khoảng thời gian dịch dễ bùng phát là từ tháng 4 tới tháng 8.

Sau khi nhập quan, vị Hoàng đế tiếp theo là Thuận Trị dù tìm đủ mọi cách đề phòng nhưng vẫn không tránh dịch bệnh mùa bùng phát. Tới năm 1661, chính vị vua này cũng qua đời ở tuổi 24 vì mắc phải đậu mùa.

Điểm đáng nói hơn còn nằm ở chỗ, trước lúc lâm chung, Thuận Trị vốn muốn truyền ngôi cho con trai thứ hai, tuy nhiên sau đó lại nghe theo lời khuyên của nhiều người, để con trai thứ 3 là Huyền Diệp lên kế vị, tức Khang Hi đế sau này.

Mà một trong những nguyên nhân khiến Khang Hi có thể kế thừa cơ nghiệp nằm ở chỗ: Ông đã từng mắc bệnh đậu mùa vào năm 2 tuổi và may mắn khỏi bệnh, từ đó có được khả năng miễn dịch với căn bệnh này.

Tuy nhiên dù vậy, căn bệnh ám ảnh ẩy vẫn lưu lại trên gương mặt của Khang Hi nhiều vết sẹo rỗ trong suốt một khoảng thời gian dài.

Và thực tế lịch sử cũng cho thấy, đậu mùa từng tước đi không ít sinh mạng của hoàng tộc nhà Thanh.

Năm xưa, Thuận Trị đế từng có 8 người con trai, 6 người con gái. Thế nhưng trong số này có tới 4 vị hoàng tử và 5 vị công chúa mất trước năm lên 8 cũng vì đậu mùa.

Dich benh am anh nha Thanh trong nhieu thap ky-Hinh-4

Ảnh minh họa: Nguồn Internet.

Vào thời điểm đó, Đại Thanh dù trên danh nghĩa đã thống trị Trung Hoa, nhưng vẫn chưa hoàn toàn làm chủ một vài khu vực ở phía Nam – nơi có thời tiết ấm áp và dễ bị dịch bệnh hoành hành.

Sau khi trưởng thành, Khang Hi thấy được đậu mùa chính là yếu tố uy hiếp nghiêm trọng tới sự thống trị của Thanh triều, vì vậy liền bắt đầu tìm biện pháp hóa giải.

Ông đã đặc biệt thành lập ban chẩn bệnh ở Thái y viện và nhiều cơ sở khám đậu mùa trong kinh thành, đồng thời cũng cho người thường xuyên kiểm tra công tác phòng dịch.

Khang Hi còn xây dựng Sơn trang Thừa Đức, coi đó như mảnh đất che chở cho con cháu hoàng tộc vào những tháng cao điểm dễ bùng phát dịch bệnh.

Năm 1678, Thái tử Dận Nhưng mắc bệnh đậu mùa, các thái y trong cung đều bó tay hết cách. Bấy giờ có người tiến cử cho nhà vua một vị huyện lệnh nhất phẩm từng chữa trị khỏi cho nhiều người mắc phải căn bệnh này là Phó Vi Cách.

Sau đó, Phó Vi Cách quả nhiên cứu được Thái tử một mạng, liền được phong làm Vũ Xương đông xứ, trở thành một trong những nhân vật then chốt của công tác phòng chống bệnh đậu mùa thời Khang Hi.

Dich benh am anh nha Thanh trong nhieu thap ky-Hinh-5

Chân dung Khang Hi đế - vị vua giúp Thanh triều chiến thắng trước dịch đậu mùa. (Nguồn Baidu).

Nhờ nắm được phương pháp chữa trị hiệu quả, trong số 20 vị Hoàng tử ra đời kể từ sau năm 1681 của Khang Hi thì có tới 17 người khỏe mạnh sống tới tuổi thành niên.

Trước mốc thời gian trên, dù nhà vua từng có 15 vị hoàng tử nhưng chỉ 7 người trong số đó là sống tới tuổi trưởng thành.

Cũng trên cơ sở này, Khang Hi bắt đầu đẩy mạnh quy mô phòng ngừa và chữa trị đậu mùa ra khắp nơi trên lãnh thổ.

Và trong suốt 100 năm sau đó, trong cung rất ít khi có người mắc bệnh, việc hoàng tộc phải chạy loạn khắp nơi để tránh dịch cũng không còn tái diễn.

Nhờ vào sự thành công trên, Khang Hi đế lần lượt tiến hành các công cuộc bình định, củng cố chỗ đứng của vương triều Đại Thanh trên đất Trung Nguyên, từ đó khai sáng một thời kỳ thịnh trị nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa.

Mưu Thánh trong lịch sử Trung Hoa

Trương Lương là vị "Mưu Thánh" đứng thứ 3 trong các đại quân sư kiệt xuất nhất lịch sử Trung Quốc, xếp trên Gia Cát Lượng tới 4 bậc

Năm xưa Hán - Sở tranh hùng , Hạng Vũ (232 TCN - 202 TCN) tài danh lẫy lừng, xuất thân cao quý nhưng lại thất bại dưới tay Lưu Bang, vốn là nông dân ít học.

Nhìn vào lý lịch của vị hoàng đế khai quốc nhà Hán, ai cũng có thể nhận ra Lưu Bang không giỏi binh pháp, không giỏi cầm quân, lại sống buông thả ham mê tửu sắc, tuy vậy phẩm chất khiến ông trở thành bá chủ thiên hạ chỉ gói gọn trong hai chữ: Dụng quân.

Lưu Bang (256 TCN -195 TCN) là bậc thầy trong thuật dùng người, vị quân vương luôn biết cách chiêu mộ người tài và người tài cũng vì vậy mà tự nguyện giúp ông hoàn thành bá nghiệp.

Sau khi diệt Sở, thu giang sơn về một mối, Hán Cao Tổ Lưu Bang trong bữa tiệc ăn mừng ở Lạc Dương mới hỏi quần thần rằng có biết ông và Hạng Vũ khác nhau ở chỗ nào không. Các quan trong triều đều cho rằng ông là người nhân nghĩa, chính trực.

Nghe đến đây, Lưu Bang mới lắc đầu mà nói:

"Việc tính toán trong màn trướng mà quyết định sự thắng ở ngoài ngàn dặm thì ta không bằng Trương Lương ; trị nước nhà, vỗ yên trăm họ, vận tải lương thực không bao giờ gián đoạn thì ta không bằng Tiêu Hà; đoàn kết trăm vạn người như một, đánh tất thắng, tấn công chắc chắn được thì ta không bằng Hàn Tín .

Ba người này đều là những kẻ hào kiệt, ta biết dùng họ cho nên lấy được thiên hạ. Hạng Vũ có một Phạm Tăng mà không biết dùng cho nên mới bị ta bắt."

Có thể thấy, những nhân tài đứng sau Lưu Bang mới chính là điều làm nên sự khác biệt của vị Hoàng đế, trong đó, người Hán Cao Tổ trọng dụng nhất chính là nhân vật được nhắc đến đầu tiên - "Mưu Thánh" Trương Lương .

Muu Thanh trong lich su Trung Hoa

Trương Lương (? - trước năm 189) là danh thần khai quốc nổi tiếng thời nhà Hán. Ông cùng với Hàn Tín, Tiêu Hà đóng vai trò quan trọng giúp Lưu Bang đánh đổ nhà Tần và thắng Hạng Vũ trong chiến tranh Hán - Sở rồi sáng lập ra nhà Hán.

Tờ Sohu liệt ông vào hàng ngũ 10 đại quân sư kiệt xuất nhất lịch sử Trung Quốc, đứng vị trí thứ 3 chỉ sau Khương Tử Nha và Lưu Bá Ôn , đứng trên Gia Cát Lượng tới 4 bậc. Vậy Trương Lương có tài năng kiệt xuất gì mà lại được đánh giá cao tới vậy?

Hãy cùng tìm hiểu qua 2 kế sách lợi hại của vị đại quân sư này.

Cứu Lưu Bang khỏi "kiếp nạn" Hồng Môn Yến

Hồng Môn Yến hay bữa tiệc ở Hồng Môn (địa danh nay thuộc thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc) thoạt nghe chỉ giống như một bữa tối của các vị quân vương nhưng lại chính là sự kiến làm bùng nổ cuộc chiến kéo dài 5 năm giữa Lưu Bang và Hạng Vũ.

Sự kiện bắt đầu vào cuối năm 207 TCN, khi Lưu Bang và Hạng Vũ đều muốn chiếm được vùng đất trung tâm của nhà Tần ở Quan Trung.

Lúc này Hạng Vũ là người đến sau, nhận thấy quân Lưu Bang vào chiếm Quan Trung trước thì vô cùng tức giận, muốn lên kế hoạch vây quân chiếm lại. Quân đội của Hạng Vũ có tới 40 vạn binh trong khi Lưu Bang chỉ mang vỏn vẹn 10 vạn binh nên nếu đánh thì thắng thua đã rõ ràng.

Trớ trêu thay, Hạng Bá - chú của Hạng Vũ lại là bằng hữu thân tín của Trương Lương. Vì lo lắng cho tính mạng bạn mình, Hạng Bá đã tìm đến trại để kể tình hình và khuyên Trương Lương nên trốn đi.

Muu Thanh trong lich su Trung Hoa-Hinh-2

Nhận được tin, vị quân sư kiên trung lập tức báo cáo cho chủ soái Lưu Bang, còn chỉ rõ đường đi nước bước sao cho quân mình rút lui êm đẹp trước sức mạnh của Hạng Vũ.

Nghe theo lời "Mưu Thánh", Lưu Bang bèn tranh thủ sự giúp đỡ của Hạng Bá, để Hạng Bá nói với cháu trai mình rằng quân đội của ông đã sẵn sàng quy phục. Nhờ đó, Lưu Bang được mời đến bữa tiệc Hồng Môn do Hạng Vũ chuẩn bị.

Trương Lương đã sớm căn dặn, chủ soái của mình đến tiệc phải ứng xử khiêm nhường, phải liên tục ngợi khen Hạng Vũ là bậc kỳ tài trong thiên hạ, không ai sánh được. Lưu Bang nhất nhất nghe theo, còn nói thêm rằng quân mình tiến vào Quan Trung trước chỉ là do may mắn, mong Hạng Vũ đừng nghe lời những kẻ xấu xa đặt điều.

Ban đầu, kế sách của Phạm Tăng (quân sư thân tín của Hạng Vũ) là dụ Lưu Bang đến Hồng Môn Yến để tiêu diệt, thế nhưng khi nhìn thấy bậc cha chú hơn mình tới 30 tuổi đang "phủ phục" trước mắt, Hạng Vũ kiêu ngạo không thể không động lòng.

Muu Thanh trong lich su Trung Hoa-Hinh-3

Tây Sở Bá Vương cuối cùng bỏ ngoài tai lời quân sư, quyết định "thả hổ về rừng" không giết Lưu Bang. Đây chính là quyết định sai lầm nhất của Hạng Vũ khiến ông phải chịu hậu họa lớn.

Đứng trước một vị chiến thần tài hoa nhưng kiêu ngạo như Hạng Vũ, Trương Lương đã dùng đến kế sách mà hậu thế gọi là "kim thiền thoát xác" hay "ve sầu thoát xác", nghĩa là bên ngoài nhẫn nhịn chịu đựng, bên trong âm thầm chuẩn bị lật ngược tình thế.

Mưu kế hơn người này đã khiến Lưu Bang ngày càng thêm trọng dụng vị quân sư thân tín.

Tập hợp trăm vạn binh mã không tốn chút sức lực

Năm 202 TCN, Lưu Bang trải qua nhiều năm giao chiến với Hạng Vũ thì nhận thấy mình thua nhiều hơn thắng. Muốn một lần tiêu diệt tận gốc Tây Sở Bá Vương, Lưu Bang nhất định phải hội đủ quân mới có cơ hội.

Giữa thời khắc nội bộ mâu thuẫn, rối ren - Lưu Bang và danh tướng Hàn Tín xảy ra bất hòa, quân sư Trương Lương buộc phải ra tay dàn xếp.

Để giữ chân vị tướng "bách chiến bách thằng", Trương Lương tự thân đến gặp Hàn Tín thuyết phục rằng ông nên cùng Hạng Vũ hội quân đánh bại kẻ thù, chỉ có vậy ngôi vị của ông mới vững chãi. Hàn Tín nghe vậy, phần vị nể nang Trương Lương, phần vì căm ghét kẻ thù chung, nên đã quyết định bỏ qua hiềm khích hội quân cùng Lưu Bang.

Đối với các nước chư hầu khác, Trương Lương bày cho chủ soái của mình cách dùng của cải, đất đai để phong thưởng lấy lòng họ. Cuối cùng thu nạp lực lượng quân sĩ lớn vượt trội so với quân Sở, tiến đánh trận Cai Hạ - trận đánh then chốt trong cuộc chiến Hán - Sở tranh hùng.

Muu Thanh trong lich su Trung Hoa-Hinh-4

Trong trận chiến, Trương Lương biết người Sở rất yêu quê hương nên đã hiến kế "tứ diện Sở ca". Theo đó, Lưu Bang cho quân mình mai phục bốn phía, vây chặt thành Cai Hạ, hát to dân ca nước Sở khiến Hạng Vũ ở trong thành cũng vô cùng ngạc nhiên:

"Lưu Bang đã chiếm được đất Sở rồi sao? 

Tại sao lại có nhiều người Sở trong quân đội ông ta như vậy?"

Quân binh của Hạng Vũ bị đánh mạnh vào tinh thần nên vô cùng rệu rã, càng đánh càng thua.

Nhiều tài liệu nói rằng Hạng Vũ cảm thấy mình không có mặt mũi nhìn người Sở nên đã tự sát hoặc vẫn còn sống những đã trốn đi thật xa.

Cuối cùng, Lưu Bang thống nhất được thiên hạ, lên ngôi hoàng đế và lấy hiệu là Hán Cao Tổ.

Công trạng phò tá Hán Cao Tổ to lớn là vậy nhưng Trương Lương cuối cùng chỉ khiêm tốn xin được nhận một phần đất phong nhỏ hẹp.

Tài năng và tầm nhìn của Trương Lương đã khiến sử gia Tư Mã Thiên hết mực nể trọng. Trong cuốn "Sử Ký", Tư Mã Thiên đã xếp câu chuyện của ông vào phần Thế gia, tức là phần dành cho các nước chư hầu, những người có địa vị lớn trong giới quý tộc trong khi Hàn Tín chỉ được cho vào phần Liệt truyện - các sự kiện, câu chuyện ít quan trọng hơn.

Những vụ cắm sừng hoàng đế nổi tiếng lịch sử Trung Quốc

Các vị vua nổi tiếng của Trung Quốc đã không ít lần bị cắm sừng bởi những bà vợ tuyệt thế giai nhân của mình.

Những vị Hoàng đế xưa nay ở Trung Quốc đều có “hậu cung 3.000 giai nhân”. Mặc dù bên cạnh có nhiều giai nhân, mỹ nữ nhưng những vị Hoàng đế này cũng không tránh khỏi việc bị “cắm sừng”.

1. Hán Thành Đế Lưu Ngao

Chuyện phong thủy của bạo chúa Tần Thủy Hoàng

Là Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, nhiều người nói rằng, ngoài tài năng và sự tàn bạo sở dĩ Tần Thủy Hoàng có thể thống nhất được Trung Quốc là nhờ bố cục phong thủy đắc địa của kinh đô Hàm Dương.

Là Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, nhiều người nói rằng, ngoài tài năng và sự tàn bạo sở dĩ Tần Thủy Hoàng có thể thống nhất được Trung Quốc là nhờ bố cục phong thủy đắc địa của kinh đô Hàm Dương. Thế nhưng, thành bởi phong thủy , bại cũng bởi phong thủy. Chẳng bao lâu sau khi thực hiện cuộc trấn áp khí thiên tử ở Nam Kinh, Tần Thủy Hoàng đột ngột lâm bệnh nặng rồi chết. Ba năm sau đó, đế quốc Đại Tần mà ông ta khổ công xây dựng đã bị thiêu rụi…

Thống nhất thiên hạ nhờ phong thủy

Trong con mắt của các nhà phong thủy, Tần Thủy Hoàng sở dĩ thành đại nghiệp, tiêu diệt lục quốc, thống nhất Trung Quốc, trở thành Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc là nhờ địa thế lý tưởng của sông núi mà nước Tần chiếm giữ.

Kinh đô Hàm Dương của nước Tần nằm ở phía Nam của núi Cửu Trọng, phía Bắc của dòng Vị Thủy, cả núi lẫn sông đều vượng dương khí, vì vậy nơi đây mới có tên là Hàm Dương. Nếu như nói rằng, nước Tần có được vùng Quan Trung như hổ mọc thêm cánh thì có thể nói Hàm Dương chính là cái vuốt sắc nhọn và lợi hại nhất của con hổ ấy. Thậm chí, có người nói rằng, không có sự phù trợ của kinh đô Hàm Dương, sự nghiệp thống nhất thiên hạ của Tần Thủy Hoàng chưa chắc đã hoàn thành dễ dàng như vậy.

Nằm dưới chân ngọn núi Cửu Trọng tráng lệ và hùng vĩ, bình nguyên Tần Xuyên dài 800 dặm mênh mang, lúc ẩn, lúc hiện. Thành cổ Hàm Dương nằm ngay trong lòng của bình nguyên Tần Xuyên rộng lớn ấy. Vùng đất này có sản vật phong phú, đất đai màu mỡ, là nơi phát tích ra 12 vương triều Chu, Tần, Hán, Tùy, Đường,… Có thể nói, Hàm Dương hoàn toàn không hổ danh là nơi đất tổ của “long mạch”.

Các nhà phong thủy cho rằng, một trong những nguyên tắc cơ bản trong phong thủy là “y sơn, bàng thủy” (dựa vào núi và gần sông, biển). Núi giống như xương sống của đất và là kho thiên nhiên của con người. Còn sông, hồ, biển cả là suối nguồn sự sống của con người. Không có nước, con người không thể nào tồn tại được.

Chuyen phong thuy cua bao chua Tan Thuy Hoang

Tần Thủy Hoàng có thể thống nhất được Trung Quốc là nhờ bố cục phong thủy đắc địa của kinh đô Hàm Dương.

Trên bình nguyên Tần Xuyên rộng lớn, có một dòng sông Vị Hà chảy xuôi xuống phía Nam, tạo nên sự phong phú cho long mạch vùng đất Hàm Dương. Sông Vị Hà là nhánh lớn nhất của dòng Hoàng Hà, con sông lớn nhất Trung Quốc. Chính vì vậy, có thể nói sự giàu có của Hàm Dương nhờ một phần rất lớn vào dòng sông này.

Truyền thuyết kể rằng, vào ngày lập xuân, Tần Vương Doanh Chính muốn làm lễ tế trời bên dòng sông Vị Hà. Khi đoàn người náo nhiệt kéo tới chỗ được lựa chọn làm lễ tế thì phát hiện trong dòng nước chảy của sông Vị Hà phát ra những âm thanh lạ kỳ, trong khi mặt nước vẫn tĩnh lặng, không hề xảy ra điều gì bất thường.

Sau khi đại lễ bắt đầu thì bỗng nhiên mây đen từ đâu kéo về che kín bầu trời. Khi mọi người còn đang hoảng hốt không hiểu lý do thì dòng Vị Hà sóng nổi cuồn cuộn, những ngọn sóng cao ngất tới tấp đánh vào bờ. Đoàn người tế lễ triều Tần vội vàng xông tới bảo vệ cho Tần Vương. Đúng lúc đó, đột nhiên từ dưới dòng nước bay vụt lên một con rồng màu xanh khiến bọt nước bay đầy trời. Tần Vương Doanh Chính đứng sững người, bình tĩnh quan sát tất cả sự việc đang xảy ra trước mắt mình.

Con rồng xanh sau khi xuất hiện, bay vòng quanh trên bầu trời ba vòng rồi hướng về phía Tần Vương Doanh Chính gật đầu ba cái. Sau đó, còn rồng lại một lần nữa bay vút lên trời cao rồi lao xuống dòng nước sông biến mất. Một lúc sau, dòng sông Vị Hà trở lại vẻ tĩnh lặng ban đầu. Từ đó về sau, sông Vị Hà được Tần Vương Doanh Chính gọi là Thánh Thủy (Sông Thánh).

Nhờ có được sự giúp đỡ của thần sông Vị Hà nên sau khi thành đại nghiệp, thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng tự coi mình thuộc về “thủy đức”. Căn cứ theo quan niệm Âm dương Ngũ hành thì nhà Chu thuộc “hỏa đức”, nhà Tần thay thế nhà Chu, thống nhất Trung Quốc đương nhiên thuộc “thủy đức”. Thủy đức vượng nhất vào tháng 10, vì vậy, khi lập pháp, nhà Tần lấy tháng 10 làm tháng đầu của năm.

Trong Ngũ hành, thủy đức ứng với màu đen, vì vậy, nhà Tần rất chuộng màu đen, từ quần áo tới cờ quạt, tất thảy đều có màu đen. Con số biểu tượng của thủy là số 6, vì vậy, tất cả đều lấy con số 6 làm chuẩn. Chẳng hạn như ấn tín, mũ quan đều dài và cao 6 tấc, xe rộng 6 thước (khoảng 1,8 mét), xe ngựa dùng 6 ngựa và cứ 6 thước thì tính là một bộ… Trong những ghi chép của triều đại nhà Tần, ở đâu cũng có thể thấy được dấu vết của “thủy đức”.

“Y sơn, bàng thủy” không chỉ là tiêu chuẩn lựa chọn của phong thủy, mà về mặt quân sự cũng phát huy những ý nghĩa quan trọng. Từ khi trở thành một chư hầu hùng cứ một phương, nhà Tần đã rất nhiều lần dời đô và gần như tất cả các lần dời đô ấy đều có liên quan tới phong thủy. Chẳng hạn, ban đầu nhà Tần lấy vùng Tần Ninh (nay là huyện Hoa, Thiểm Tây) làm trung tâm chính trị là do Tần Ninh có núi Phượng Hoàng che chở, Bắc có sông Vị Thủy, Tây Nam có các kênh đào bao quanh.

Tiếp đó, nước Tần lại chuyển kinh đô về Ung Thành. Nguyên nhân cũng là vì Ung Thành phía Đông giáp sông Hoành Thủy, phía Tây dựa vào ngọn Linh Sơn, phía Nam giáp Hãn Hà, phía Bắc thì có ngọn Quân Pha. Về mặt quân sự, phía Nam có thể khống chế đường nối giữa Hán Trung và Tứ Xuyên, Tây có thể quản chặt đường giao thông phía Tây. Sau đó, nhà Tần lại dời đô một lần nữa.

Lần này là tới Lịch Dương. Phía Bắc của Lịch Dương là giáp với ngoại tộc, phía Đông thông với ba nước Tam tấn là Hàn – Ngụy – Triệu. Có thể thấy rằng, mỗi lần dời đô, nước Tần đều chú ý chọn được vị trí có ưu thế nhất về mặt quân sự, từ đó mở rộng bản đồ lãnh thổ của mình.

Tới thời Tần Thủy Hoàng, vị Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc này quyết định định đô ở Hàm Dương vẫn là vì nguyên nhân “dựa núi, gần sông biển”, tiến thoái đều dễ dàng, nhờ vậy cuối cùng đã thành được đại nghiệp thống nhất Trung Quốc. Theo đó, có thể thấy rằng vị trí địa lý và hoàn cảnh có vai trò thế nào đối với sự phát triển của một vương quốc.

Có thể nói rằng, nhờ vào vị trí phong thủy cực kỳ đắc địa của Hàm Dương mà Tần Vương Doanh Chính mới có thể đánh bại 6 nước chư hầu, biến nước Tần từ một chư hầu trở thành một vương triều và bản thân mình thì trở thành vị Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử.

Trấn áp khí thiên tử ở Nam Kinh

Sau khi giành được thiên hạ, thống nhất đất nước, do không muốn có kẻ nhòm ngó thiên hạ do mình khổ công giành được, Tần Thủy Hoàng đã thực hiện chuyến Đông du để trấn áp “khí thiên tử” ở vùng Đông Nam. Đó là chuyện xảy ra vào năm Tần Thủy Hoàng thứ 37, tức năm 210, cũng là năm Tần Thủy Hoàng mắc bệnh và qua đời.

Theo ghi chép của sử sách thì vào năm này, Tần Thủy Hoàng đã thực hiện một chuyến Đông du về phía Đông Nam, xuất phát từ Tây An vào tháng 10, tới tháng 11 thì tới Vân Mộng rồi lên thuyền xuôi dòng sông đi xuống phía Nam. Khi Tần Thủy Hoàng đi tới vùng phụ cận Nam Kinh thì lên bờ ở bến Giang Thừa, vào trong thị trấn rồi tới Tiểu Đan Dương. Tiếp đó, theo đường thủy Thái Hồ đi tiếp xuống phía Nam, tới vùng Chiết Giang thì dừng lại.

Trên đường quay về, Tần Thủy Hoàng cũng qua sông ở đoạn Giang Thừa. Do chuyến Đông du của Tần Thủy Hoàng, Nam Kinh đã xuất hiện tuyến đường cao tốc đầu tiên, gọi là “Tần Hoàng trì đạo”. Vào thời bấy giờ, loại đường này gọi là quốc đạo, chỉ dùng cho hoàng gia. Đường này làm rộng và thoáng, cưỡi ngựa có thể chạy rất thoải mái và nhanh, do vậy mới có tên là “trì đạo” (trì nghĩa là cưỡi, phi ngựa).

Vì sao Tần Thủy Hoàng lại chọn tuyến đường này để thực hiện chuyến Đông du của mình? Theo sách “Dư địa chí” ghi chép, thì mục đích chủ yếu của Tần Thủy Hoàng là nhằm trấn áp “khí thiên tử” ở vùng Đông Nam. Chuyện kể rằng, trước đó, một thuật sỹ nói với Tần Thủy Hoàng rằng “Giang Đông (vùng Nam Kinh) có khí thiên tử”.

Vì vậy, Tần Thủy Hoàng mới quyết định lấy thực hiện chuyến Đông du, lấy chính bản thân mình ra để trấn áp khí thiên tử này. Sách “Cảnh Định kiện khang chí” cũng có chép, khi Tần Thủy Hoàng vượt sông, thuật sỹ nọ lại đoán khí, nói một cách chi tiết về thời gian và địa điểm của luồng khí thiên tử nọ với Tần Thủy Hoàng: “500 năm sau, Kim Lăng sẽ có thiên tử khí”.

Ý nghĩa của câu nói này chính là sau 500 năm nữa, tại Nam Kinh sẽ sản sinh ra một vương triều mới. Theo truyền thuyết thì thuật sỹ nọ chính là Từ Phúc, người một năm trước đó đã theo lệnh của Tần Thủy Hoàng đi ra biển Đông cầu thuốc trường sinh bất lão. Từ Phúc cũng là ngự y của Tần Thủy Hoàng, vốn là người cảng Liên Vân, tỉnh Giang Tô ngày nay.

Tần Thủy Hoàng nghe thấy Từ Phúc nói như vậy thì thấy thất vọng vô cùng. Ông ta tự gọi mình là Thủy Hoàng (Hoàng đế đầu tiên) và mong muốn con cháu mình sẽ tiếp nối mình đến hàng vạn đời. Nay, theo lời của Từ Phúc thì sự thống trị của triều Tần cùng lắm cũng chỉ kéo dài được 500 năm. Như vậy là quá ngắn ngủi.

Vì thế, Tần Thủy Hoàng quyết định dừng chân tại Nam Kinh. Đây là lý do mà sử sách ghi chép về hành trình Đông du của Tần Thủy Hoàng đều có đoạn Tần Thủy Hoàng tới vùng phụ cận Nam Kinh thì dừng thuyền và lên bờ. Mục đích của Tần Thủy Hoàng là thay đổi phong thủy của đất Kim Lăng để trấn áp “khí thiên tử”, không cho phép mảnh đất này có thể sản sinh ra một vương triều mới thay thế triều Tần.

Người Trung Quốc xưa quan niệm, muốn thay đổi địa vị, phong thủy của một vùng đất, có ba cách. Một là thay đổi dòng chảy của sông, hai là trấn khí ở những ngọn núi lớn, ba là đổi tên để làm thấp danh vọng của nó. Tần Thủy Hoàng vì muốn trấn áp triệt để khí thiên tử ở Nam Kinh nên thực hiện cùng lúc cả ba biện pháp trên.

Hành động đầu tiên của Tần Thủy Hoàng là thay đổi dòng chảy của dòng sông Tần Hoài. Sông Tần Hoài vốn có tên ban đầu là “Tàng Long Phố”, là một dòng sông đóng vai trò quan trọng trong giao thông đường thủy của Nam Kinh. Đây chính là con sông đã sản sinh ra nền văn minh lục triều và văn hóa đế vương ở mảnh đất Nam Kinh. Đồng thời, đây cũng là con sông “tiết khí”. Vào năm Minh Đế thứ 2 nhà Đông Tấn, khi Thẩm Sung, Tô Tuấn làm loạn, đã có hơn 3.000 người nhảy xuống sông Tần Hoài tự sát.

Đầu nguồn của sông Tần Hoài bắt nguồn từ hai nơi. Phía Đông bắt nguồn từ Mao Sơn còn phía Tây thì bắt nguồn từ Lô Sơn. Khi hai nhánh này chảy tới núi Phương Sơn thuộc địa phận Giang Ninh thì hợp làm một. Theo truyền thuyết thì con sông này vốn không chảy qua Nam Kinh, tuy nhiên Tần Thủy Hoàng đã ra lệnh cho quân lính đào khoét núi Phương Sơn để con sông này chảy lên hướng Bắc, đi xuyên qua thành Nam Kinh, từ đó tạo nên sự xung đột và đẩy toàn bộ vương khí tồn tại ở Nam Kinh ra ngoài.

Vì vậy, người ta nói rằng, sở dĩ dòng sông Tần Hoài ngày nay chảy lên hướng Bắc và qua Nam Kinh là do Tần Thủy Hoàng thay đổi dòng chảy nhằm trấn áp vương khí của Nam Kinh. Con sông “Tàng Long” này cũng vì thế mà bắt đầu có tên là Tần Hoài.

Một điều khiến nhiều người thắc mắc là vì sao thuật sỹ của Tần Thủy Hoàng lại lựa chọn Phương Sơn mà không phải là một ngọn núi nào khác. Điều này cũng có liên quan tới phong thủy. Phương Sơn còn gọi là núi Thiên Ấn, là một ngọn núi lớn ở ngoại thành phía Nam của Nam Kinh. Ngày nay, ngọn núi này nằm ở bên bờ sông Tần Hoài, thuộc địa phận thị trấn Đông Sơn, khu Giang Ninh, là một trong những mảnh đất đắc địa về mặt phong thủy của Nam Kinh.

Vì vậy, xung quanh bốn phía của ngọn núi này đều được người ta lựa chọn làm nơi chôn cất của dòng họ mình. Ngọn núi này có dạng hình vuông, đứng thẳng, đỉnh khá bằng phẳng, vì vậy mới có tên là Phương Sơn (núi vuông). Ngoài ra, vì bốn phía đều vuông vắn, giống như một chiếc ngọc tỉ bằng đá tự nhiên nên người ta mới gọi nó là Thiên Ấn Sơn. Ngọc tỉ là ấn tín của Hoàng đế. Cách gọi này hình thành kể từ thời nhà Tần trở đi, và chỉ có ấn tín của Hoàng đế mới được gọi là ngọc tỉ, giống như cách Hoàng đế tự xưng mình là “trẫm”, chỉ duy nhất Hoàng đế được sử dụng.

Ngọn Phương Sơn còn có một “long nhãn” chính là con suối Bát Quái trên ngọn núi này. Con suối này không bị ảnh hưởng bởi sự hạn hán của thời tiết, lúc nào cũng có nước chảy. Điều kỳ lạ chính là, toàn bộ đất ở Phương Sơn đều có màu đen, chỉ có duy nhất đất ở xung quanh chân núi là có màu đỏ rực rỡ. Vì vậy, người ta mới gọi đất ở xung quanh ngọn núi này là “mực đóng dấu”.

Ngày nay, những người tới Phương Sơn đều có thể nghe một truyền thuyết rất phổ biến như sau: Một ngày, Ngọc Hoàng Thượng Đế lấy chiếc ấn vàng của mình ra chơi, không may lỡ tay đánh rơi xuống hạ giới.

Chiến ấn vàng rơi đúng vào vị trí của núi Phương Sơn ngày nay, hóa thành một ngọn núi. Do vậy, ngọn núi này mới có hình dạng vuông vắn đặc biệt như vậy. Sau đó, Ngọc Hoàng phái hai vị Điện tiền thị vệ là Thanh Long và Hoàng Hổ xuống trần gian để bảo vệ ngọn núi này. Đây là lý do vì sao ở phía Đông và phía Tây Phương Sơn có hai ngọn núi tên là Thanh Long và Hoàng Hổ. Chính vì vậy, xét từ góc độ nào, Phương Sơn cũng là một ngọn núi thiêng.

Theo những câu chuyện dân gian còn lưu lại, sau khi “đuổi” vương khí ra khỏi Nam Kinh bằng cách thay đổi dòng Tần Hoài, Tần Thủy Hoàng vẫn sợ như vậy chưa triệt hết nguồn khí thiên tử nên đã dùng roi thần tự tay mình đánh thẳng vào ngọn núi này để trấn áp khí thiêng. Đây là chiêu thứ hai trong việc trấn áp khí thiên tử của Tần Thủy Hoàng. Ban đầu, Tần Thủy Hoàng định dùng “roi thần” chặt đứt phần chân núi.

Tuy nhiên, roi quất xuống không đủ mạnh nên chân núi không đứt mà chỉ làm đứt phần sườn núi. Nửa phần trên bay về hướng Đông Nam hơn 30 dặm, rơi xuống hồ, trở thành màu đỏ như máu nên gọi là Xích Sơn.

Còn nhiều phần nhỏ hơn, bay ra xa khoảng 10 dặm, hình thành Thổ Sơn, Trúc Sơn, Đại Sơn,… Đòn trấn áp của Tần Thủy Hoàng cũng khiến hai ngọn núi Thanh Long và Hoàng Hổ hợp làm một, tiến sát lại núi Phương Sơn. Tần Thủy Hoàng thấy vậy, dùng roi thần đánh tiếp khiến hình thành Bán Biên Sơn.

“Long nhãn” cũng bị Tần Thủy Hoàng làm cho “bị thương”, không ngừng chảy “nước mắt”. Đây chính là suối nước nóng Thang Sơn mà sau này Tưởng Giới Thạch và Tống Mỹ Linh rất thích tới để tắm khi chính quyền Quốc Dân Đảng còn đóng ở Nam Kinh.

Điều đương nhiên, đây chỉ là câu chuyện được lưu truyền trong dân gian. Còn địa hình của Phương Sơn và những ngọn núi xung quanh là do kết quả vận động địa chất hàng trăm, hàng ngàn năm. Làm sao một người trần mắt thịt như Tần Thủy Hoàng lại có thể dùng roi mà sắp xếp được. Tuy nhiên, truyền thuyết này cho người ta thấy rằng, vào thời bấy giờ, chắc chắn Tần Thủy Hoàng đã tìm mọi cách để trấn áp “khí thiên tử” ở ngọn Phương Sơn này.

Chiêu thứ ba của Tần Thủy Hoàng để trấn áp khí thiên tử nơi đây chính là thay đổi tên gọi để hạ thấp uy vọng của mảnh đất này. Trong quan niệm phong thủy truyền thống của Trung Quốc, tên gọi có một vai trò cực kỳ quan trọng. Vì vậy, sau khi đã “chặt đứt” khí thiên tử của Nam Kinh, để trừ hậu hoạ một cách vĩnh viễn và cũng là để người ta quên hẳn mảnh đất này, Tần Vương đã quyết định đổi tên Kim Lăng thành Mạt Lăng.

Mạt Lăng có ý nghĩa gì? Đây có thể nói là cái tên không hay ho nhất trong lịch sử của Kim Lăng và Nam Kinh ngày nay. Người Trung Quốc có thành ngữ nói rằng “Mạt mã lệ binh”, nghĩa là trước khi chiến tranh, cho ngựa ăn no, mài sắc binh khí. Mạt Lăng, trong mắt của Tần Thủy Hoàng, chỉ là nơi mà ông ta cho ngựa ăn. Chiêu này của Tần Thủy Hoàng cực kỳ thâm hiểm. Sau khi con người đã tàn phá, làm hỏng toàn bộ thiên tử khí của mảnh đất này thì biến nó thành nơi để gia súc sinh sống.

Cho tới tận ngày nay, dải đất Giang Tô vẫn còn giữ tập quán nuôi ngựa. Sau khi gian thần thời Nam Tống là Tần Cối chết, nơi đây cũng bị dân chúng biến thành nơi nuôi ngựa để xỉ nhục họ Tần. Sau khi đổi tên, Tần Thủy Hoàng nhập Mạt Lăng vào Chương quận. Đến thời Tây Hán, Mạt Lăng mới được tách ra thành một quận riêng. Tới năm 128 trước Công nguyên, Hán Vũ Đế trao Mạt Lăng cho con trai là Giang Đô Vương gọi là Mạt Lăng Hầu.

Tuy nhiên, có lẽ việc trấn khí thiên tử của Tần Thủy Hoàng đã không đạt được mục đích như mong muốn, thậm chí còn quay lại phản tác dụng với chính bản thân ông ta. Sau khi dùng đủ chiêu trò trấn áp khí thiên tử của Nam Kinh, cũng trong chuyến Đông du lần đó, Tần Thủy Hoàng đột nhiên lâm bệnh nặng rồi qua đời. Tệ hơn nữa, sau đó chỉ vỏn vẹn 3 năm, triều Tần do ông ta lao tâm khổ tứ gây dựng đã bị đánh đổ.

Điều quan trọng là, mặc dù Tần Thủy Hoàng tìm mọi cách để trấn áp, song khí thiên tử của Nam Kinh dường như không hề bị tiêu diệt. Tới thời kỳ nhà Hán, đã có đạo sỹ nói: “Vùng Giang Đông có khí thiên tử”. Quả nhiên, chưa tới 500 năm sau đó, từ Nam Kinh đã xuất hiện vị Hoàng đế đầu tiên. Đó là chuyện xảy ra vào năm 229 khi Tôn Quyền xưng đế tại Vũ Xương, không lâu sau đó thì dời đô về Nam Kinh.

Sau đó, khi con cháu Tư Mã Ý đánh bại Thục, Ngô, thống nhất Trung Quốc, thành lập nhà Tây Tấn được 50 năm thì bị diệt vong. Hoàng thất triều Tây Tấn là Tư Mã Duệ tới Nam Kinh thì phát hiện ở ngọn Tưởng Sơn ngoại thành phía Đông có mây tím xuất hiện. Một đạo sỹ nói, đây chính là “khí thiên tử của Giang Đông”.

Duệ mừng lắm, bèn dừng lại ở Nam Kinh rồi lên ngôi Hoàng đế, sáng lập ra triều Đông Tấn, kéo dài hơn trăm năm tại đây. Cũng bắt đầu từ đây, Nam Kinh trở thành mảnh đất đế kinh được nhiều triều đại lựa chọn làm trung tâm chính trị của quốc gia mình. Cho tới thời hiện đại, chính quyền Dân quốc cũng lựa chọn Nam Kinh làm thủ đô. Tuy nhiên, người ta nói rằng, dù không cắt đứt được khí thiên tử, nhưng những chiêu trấn áp của Tần Thủy Hoàng cũng khiến mảnh đất Nam Kinh mắc phải lời nguyền, tất cả những triều đại đóng đô trên mảnh đất này đều không tồn tại được lâu, thậm chí bị tiêu diệt rất nhanh và cực kỳ thảm khốc. 

Đọc nhiều nhất

Tin mới