Rừng Amazon không phải 'lá phổi xanh' của Trái đất như nhiều người vẫn nghĩ

Rừng Amazon từ lâu được ví như "lá phổi xanh" của Trái đất. Thế nhưng, khu rừng này không cung cấp nhiều oxy như chúng ta vẫn nghĩ.

Nằm trải dài qua nhiều quốc gia Nam Mỹ, trong đó phần lớn diện tích thuộc Brazil, Amazon là khu rừng nhiệt đới lớn nhất thế giới với diện tích khoảng 5,5 triệu km². Những cánh rừng xanh tốt quanh năm là nơi sinh sống của vô số loài động thực vật, đồng thời góp phần duy trì khí hậu và lượng mưa trong khu vực. Với thảm thực vật rộng lớn như vậy, Amazon tạo ra một lượng oxy đáng kể mỗi ngày, nhưng phần lớn lại được sử dụng ngay trong chính khu rừng.

mata-atlantica-atlantic-forest-in-brazil-royalty-free-image-1668724621jpg.jpg
Vai trò thực sự của khu rừng này không nằm ở việc “sản xuất oxy” như cách nhiều người vẫn nghĩ. Ảnh: FG Trade//Getty Images

Cây xanh hấp thụ khí carbon dioxide (CO2) và giải phóng oxy thông qua quá trình quang hợp. Dù vậy, bản thân cây cũng cần oxy để hô hấp, lấy năng lượng cho các hoạt động sống. Quá trình này diễn ra liên tục cả ngày lẫn đêm.

Chưa kể, Amazon còn là nơi sinh sống của hàng triệu loài động vật, nấm và vô số vi sinh vật. Tất cả đều tham gia vào quá trình sử dụng oxy. Những chiếc lá rụng, cành cây khô hay thân gỗ mục cũng không tự biến mất mà dần bị phân hủy nhờ hoạt động của vi sinh vật. Quá trình phân hủy ấy tiếp tục tiêu thụ một lượng oxy đáng kể.

Trong một khu rừng nhiệt đới lâu năm như Amazon, lượng oxy được tạo ra và lượng oxy bị tiêu thụ thường gần như cân bằng. Vì vậy, dù cây cối vẫn quang hợp mỗi ngày, lượng oxy thực sự được bổ sung vào khí quyển về lâu dài là rất ít. Con số 20% thường được nhắc đến đã khiến nhiều người nhầm lẫn giữa lượng oxy được sản xuất và lượng oxy còn lại sau khi các sinh vật sử dụng.

Nếu xét lượng oxy được tạo ra hằng năm, đại dương mới là nơi đóng góp một phần rất lớn. Theo ước tính của Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA), khoảng một nửa lượng oxy được sản xuất trên Trái đất đến từ các sinh vật có khả năng quang hợp dưới nước, chủ yếu là thực vật phù du, tảo và một số loại vi khuẩn. Song cũng giống như trên đất liền, phần lớn lượng oxy ấy lại được các sinh vật biển sử dụng.

anh-man-hinh-2026-10-27-luc-165955.png
Đại dương mới là nơi đóng góp một phần lớn lượng oxy được sản xuất trên Trái đất, chủ yếu nhờ hoạt động quang hợp của thực vật phù du, tảo và một số loại vi khuẩn.

Lượng oxy mà con người hít thở ngày nay thực ra đã được tích lũy trong khí quyển suốt hàng tỷ năm. Từ rất lâu trước khi những cánh rừng Amazon xuất hiện, các sinh vật quang hợp đã bắt đầu giải phóng oxy. Theo thời gian, một phần chất hữu cơ được chôn vùi dưới các lớp trầm tích, không bị phân hủy hoàn toàn, tạo điều kiện để oxy dần tích tụ trong khí quyển.

Vì thế, nếu rừng Amazon tiếp tục bị thu hẹp, con người sẽ không lập tức rơi vào cảnh thiếu oxy để thở. Điều khiến các nhà khoa học lo ngại hơn cả là những ảnh hưởng của việc mất rừng đối với khí hậu, nguồn nước và môi trường sống của các loài sinh vật.

Amazon hiện lưu giữ một lượng carbon rất lớn trong cây cối và đất rừng. Khi cây bị chặt hạ hoặc thiêu rụi, một phần carbon tích trữ được giải phóng trở lại khí quyển dưới dạng CO2, góp phần làm Trái đất nóng lên. Diện tích rừng giảm cũng khiến khả năng hấp thụ CO2 bị ảnh hưởng, nhất là khi nhiều khu vực liên tục phải đối mặt với hạn hán và cháy rừng.

Những cánh rừng Amazon còn góp phần tạo nên các cơn mưa ở Nam Mỹ. Mỗi ngày, cây cối hút nước từ đất rồi đưa một phần hơi nước trở lại không khí qua lá. Hơi ẩm từ rừng góp phần hình thành mây, tạo mưa. Khi rừng bị chặt phá trên diện rộng, lượng hơi nước đưa vào khí quyển cũng giảm theo.

Amazon vì thế vẫn giữ vai trò rất quan trọng đối với Trái đất, dù không phải nguồn cung cấp 20% lượng oxy như quan niệm lâu nay.

Người La Mã cổ đại đưa nước chảy ngược lên dốc bằng cách nào?

Không có máy bơm hiện đại, người La Mã vẫn đưa nước vượt qua những thung lũng sâu và chảy lên cao nhờ hệ thống đường ống cùng áp lực nước.

Những cầu dẫn nước bằng đá đồ sộ là một trong những công trình nổi tiếng còn sót lại từ thời La Mã cổ đại. Được xây dựng cách đây hàng nghìn năm, chúng từng đưa nước từ các nguồn xa xôi về thành phố, phục vụ sinh hoạt, nhà tắm công cộng và đài phun nước.

Phần lớn hệ thống hoạt động nhờ trọng lực. Người La Mã xây dựng các kênh dẫn có độ dốc rất nhỏ để nước tự chảy từ nơi cao xuống nơi thấp. Tuy nhiên, địa hình không phải lúc nào cũng thuận lợi. Khi gặp thung lũng sâu hoặc những đoạn đường phải đi lên dốc, họ cần những giải pháp phức tạp hơn.

Hồ muối lớn nhất nước Mỹ từng rộng gấp 10 lần và chứa nước ngọt

Great Salt Lake từng rộng gấp 10 lần hiện nay và trải qua nhiều giai đoạn biến đổi khí hậu, nguồn nước trong 240.000 năm.

Great Salt Lake ở bang Utah hiện là hồ nước mặn lớn nhất Tây Bán cầu, với diện tích khoảng 4.144 km². Ở một số khu vực, nước hồ có thể mặn gấp 10 lần nước biển, khiến nơi đây đôi khi được ví như “Biển Chết của nước Mỹ”.

Tuy nhiên, một nghiên cứu mới cho thấy hồ này từng rất khác. Dựa trên các lớp trầm tích dưới đáy hồ, các nhà khoa học đã tái dựng gần 240.000 năm lịch sử của Great Salt Lake và nhận thấy nơi đây từng có hai giai đoạn mở rộng mạnh, khi diện tích mặt nước lớn gấp khoảng 10 lần hiện tại và độ mặn giảm đáng kể.

Mái vòm khổng lồ ở Brazil 'hút' nước như miếng bọt biển

Nổi bật giữa những cánh đồng ở Brazil, Serra de Caldas có khả năng hút và giữ nước mưa như một miếng bọt biển khổng lồ.

Một bức ảnh do vệ tinh Landsat 9 chụp ngày 19/5/2025 cho thấy một khối xanh sẫm khổng lồ nổi bật giữa những cánh đồng ở bang Goiás, miền trung Brazil có thể đã tồn tại ít nhất 600 triệu năm.

Đó là Caldas Novas, hay Serra de Caldas, một cấu trúc địa chất có dạng mái vòm. Theo NASA Earth Observatory, khối địa hình hình bầu dục này dài khoảng 20 km, rộng 12 km và nhô cao tới 300 m so với vùng đất xung quanh.

Đọc nhiều nhất

Tin mới