Khoa học và Đời sống số 08-09-10-11-2026

13 GÓC NHÌN TRÍ THỨC hơn và quyền lợi được bảo đảm hơn. Doanh nghiệp ủng hộ cải cách khi họ cảm nhận được môi trường đầu tư thông thoáng hơn, chính sách nhất quán hơn, rủi ro hành chính giảm đi và thời gian dành cho thủ tục được chuyển hóa thành thời gian cho sáng tạo, sản xuất, kinh doanh. Niềm tin không đến từ lời hứa chung chung, mà đến từ trải nghiệm cụ thể hằng ngày. Một giấy tờ được giải quyết đúng hạn, một cuộc gọi được trả lời có trách nhiệm, một dữ liệu được dùng lại thay vì yêu cầu khai báo lại, một kiến nghị được phản hồi đến cùng – đó chính là những biểu hiện sống động nhất của một bộ máy “gọn hơn” và “mạnh hơn”. Từ góc nhìn trí thức, một Nhà nước mạnh không nhất thiết là Nhà nước ôm đồm mọi việc, mà là Nhà nước biết lựa chọn đúng vai trò, dùng đúng công cụ, vận hành đúng nguyên tắc và tạo ra năng lực phát triển cho toàn xã hội. Sức mạnh của bộ máy không nằm ở số lượng tầng nấc, mà ở chất lượng quyết định; không nằm ở độ dày của hồ sơ, mà ở hiệu quả của chính sách; không nằm ở quyền lực được nắm giữ, mà ở giá trị công được tạo ra. Một bộ máy gọn hơn là điều kiện cần. Một bộ máy mạnh hơn mới là mục tiêu. Gọn để bớt tầng nấc, bớt trung gian, bớt chi phí, bớt trì trệ. Mạnh để quyết nhanh hơn, làm đúng hơn, phục vụ tốt hơn, kiến tạo nhiều hơn và chịu trách nhiệm rõ hơn. Gọn mà không mạnh thì cải cách chưa tới đích. Mạnh mà không gọn thì khó đáp ứng tốc độ của thời đại. Chỉ khi “gọn” và “mạnh” gặp nhau trong một nền quản trị hiện đại, nhân văn, minh bạch và dựa trên dữ liệu, Việt Nam mới có thể biến cuộc tinh gọn bộ máy hôm nay thành năng lực phát triển quốc gia ngày mai. “Mục tiêu cuối cùng là tạo ra một hệ thống quản trị hiệu quả hơn, gần dân hơn, linh hoạt hơn” TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Sau một năm cải cách tổ chức bộ máy, câu hỏi quan trọng là bộ máy mới đang vận hành như thế nào? Đến nay, cuộc cải cách lớn nhất chưa kết thúc, nó chỉ vừa bước sang giai đoạn thứ hai. Nhìn một cách giản đơn, cuộc cải cách vừa qua là sự sắp xếp lại các đơn vị hành chính và tinh gọn tổ chức bộ máy. Nhưng nếu nhìn ở tầm chiến lược, mục tiêu của cuộc cải cách không phải là thay đổi bản đồ hành chính, mà là tái cấu trúc không gian phát triển quốc gia. Sau gần một năm, có thể khẳng định chủ trương cải cách là đúng đắn. Bộ máy mới cơ bản vận hành ổn định. Hoạt động của hệ thống chính trị được bảo đảm liên tục. Người dân và doanh nghiệp không bị gián đoạn trong tiếp cận dịch vụ công. Nhiều địa phương đã chủ động thích ứng và phát huy được những lợi thế của mô hình mới. Đó là một thành công rất đáng ghi nhận. Nhưng chính thành công bước đầu ấy lại giúp chúng ta nhìn rõ hơn một sự thật khác: Bộ máy mới chỉ là điều kiện cần. Năng lực vận hành mới là điều kiện đủ. Năm qua, chúng ta đã làm được một việc rất khó là tổ chức lại bộ máy. Song việc khó hơn đang ở phía trước, đó là tổ chức lại cách vận hành của bộ máy. Đó là chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị phát triển. Đó là chuyển từ điều hành dựa trên kinh nghiệm sang điều hành dựa trên dữ liệu; chuyển từ quản lý theo địa giới hành chính sang quản trị theo không gian phát triển; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực quản trị của chính quyền và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc cùng các tổ chức chính trị - xã hội trong tạo đồng thuận xã hội. Cùng với đó là xây dựng một nền quản trị số, trong đó dữ liệu trở thành nguồn lực, công nghệ trở thành công cụ và năng lực ra quyết định trở thành lợi thế cạnh tranh của quốc gia. Cuộc cải cách thực sự bây giờ mới bắt đầu. Bởi điều quan trọng nhất không còn là chúng ta đã sắp xếp được bộ máy như thế nào. Điều quan trọng hơn là bộ máy đó sẽ tạo ra năng lực phát triển mới cho đất nước ra sao. Lịch sử phát triển của Việt Nam là lịch sử của những lần vượt lên những giới hạn tưởng chừng không thể vượt qua. Từ một đất nước bị chiến tranh tàn phá và thiếu ăn, Việt Nam đã vươn lên trở thành một nền kinh tế năng động và một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nhưng chặng đường phía trước đòi hỏi một bước chuyển lớn hơn. Nếu mục tiêu của thế kỷ XX là giành độc lập dân tộc và thoát nghèo, thì mục tiêu của thế kỷ XXI là trở thành một quốc gia phát triển, hùng cường và thịnh vượng. “Việt Nam phải đi lên bằng tri thức, công nghệ, năng suất, năng lực sáng tạo và chất lượng thể chế” Bà Nguyễn Thị Việt Nga, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách TP Hải Phòng. Trong mọi giai đoạn phát triển, con người luôn là yếu tố quyết định. Ở thời điểm hiện nay, vai trò ấy trở nên đặc biệt quan trọng, bởi đất nước đang đứng trước yêu cầu phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng, không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào tài nguyên, lao động giá rẻ hay gia công ở những phân khúc thấp của chuỗi giá trị. Muốn “vươn mình” thật sự, Việt Nam phải đi lên bằng tri thức, công nghệ, năng suất, năng lực sáng tạo và chất lượng thể chế. Tất cả yếu tố đó, suy cho cùng, đều bắt đầu từ con người. Đặt yếu tố con người ở vị trí trung tâm cũng là cách tiếp cận rất nhân văn trong phát triển. Bởi phát triển không chỉ là tăng trưởng GDP, không chỉ là xây dựng thêm nhà máy, tuyến đường, khu công nghiệp, mà cuối cùng phải hướng tới nâng cao chất lượng sống, mở rộng cơ hội phát triển cho mỗi người dân. Khi đầu tư cho con người, Việt Nam không chỉ tạo ra nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế, mà còn củng cố nền tảng xã hội, nâng cao dân trí, hình thành lớp công dân có trách nhiệm, có năng lực tham gia vào quá trình quản trị quốc gia. Đây là vấn đề phải được nhìn nhận như một ưu tiên chiến lược, cần được thể chế hóa bằng chính sách cụ thể, bằng nguồn lực ngân sách tương xứng và bằng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và xã hội. Việt Nam đang đặt mục tiêu bứt phá trong các lĩnh vực công nghệ như AI, bán dẫn, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo. Do đó, nếu không giải quyết tốt bài toán nhân lực, chúng ta có thể đối mặt với một nghịch lý rất đáng lo ngại: Có cơ hội phát triển nhưng không đủ năng lực để nắm bắt cơ hội. AI, bán dẫn, chuyển đổi số, dữ liệu lớn, tự động hóa, năng lượng mới hay công nghiệp công nghệ cao đều là những lĩnh vực đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn sâu, khả năng liên ngành và năng lực đổi mới sáng tạo rất cao. Nếu thiếu đội ngũ này, Việt Nam có thể tham gia vào làn sóng công nghệ mới nhưng chỉ ở vị trí gia công, lắp ráp, vận hành đơn giản, trong khi phần giá trị lớn nhất vẫn nằm ở thiết kế, nghiên cứu, sáng chế, nền tảng công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ. Thách thức thứ hai là nguy cơ tụt hậu về năng suất lao động. Trong kỷ nguyên số, khoảng cách phát triển giữa các quốc gia không chỉ được đo bằng vốn đầu tư hay tài nguyên, mà được đo bằng tốc độ học hỏi, tốc độ đổi mới và năng lực làm chủ công nghệ. Nếu lực lượng lao động không được nâng cấp kịp thời, quá trình chuyển đổi số có thể tạo ra sự phân hóa mới. Một bộ phận nhỏ có kỹ năng cao được hưởng lợi, trong khi một bộ phận lớn lao động bị thay thế hoặc bị đẩy vào các công việc có thu nhập thấp, bấp bênh hơn. Thách thức thứ ba là phụ thuộc công nghệ. Một quốc gia muốn tự chủ chiến lược trong giai đoạn mới không thể chỉ nhập khẩu công nghệ, nhập khẩu chuyên gia, nhập khẩu mô hình. Chúng ta cần có năng lực nội sinh, tức là đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học, nhà quản trị, chuyên gia pháp lý, chuyên gia dữ liệu, chuyên gia đạo đức công nghệ đủ khả năng tham gia thiết kế, kiểm soát và định hướng công nghệ theo lợi ích quốc gia. Ngoài ra, nếu không chuẩn bị nhân lực tốt, các chủ trương lớn có thể bị chậm trong quá trình thực thi. Chúng ta có thể ban hành chiến lược rất đúng, đặt ra mục tiêu rất cao, nhưng nếu thiếu người làm, thiếu người hiểu, thiếu người đủ năng lực triển khai thì chính sách sẽ khó đi vào cuộc sống. Do đó, bài toán nhân lực không phải là câu chuyện đi sau công nghệ, mà phải đi trước một bước. “Để nguồn nhân lực thực sự trở thành động lực đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, cần sớm khắc phục một số khoảng trống đang hiện hữu như khoảng trống về nhân lực công nghệ cao; nhân lực quản trị hiện đại; kỹ năng của lực lượng lao động nói chung và khoảng trống kết nối giữa đào tạo và sử dụng nhân lực. Khắc phục khoảng trống nhân lực không chỉ là mở thêm ngành học, tăng chỉ tiêu tuyển sinh, mà là tái cấu trúc cả hệ sinh thái phát triển nhân lực quốc gia”- ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga. Chuyển từ sắp xếp xong bộ máy sang vận hành tốt bộ máy “Cuộc cải cách lớn nhất không phải là sáp nhập bao nhiêu đơn vị hành chính hay giảm bao nhiêu đầu mối tổ chức. Cuộc cải cách lớn nhất là giúp mỗi cán bộ ở cơ sở có đủ quyền hạn, đủ năng lực, đủ nguồn lực và đủ công cụ để phục vụ nhân dân tốt hơn. Khi đó, cuộc cải cách mới thực sự hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Những người đang gánh cuộc cải cách trên vai hôm nay sẽ trở thành những người kiến tạo nên năng lực phát triển mới cho đất nước ngày mai” - TS Nguyễn Sĩ Dũng. Sau một năm vận hành mô hình tổ chức mới của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đưa ra yêu cầu chuyển từ "sắp xếp xong bộ máy" sang "vận hành tốt bộ máy", từ "ổn định tổ chức" sang "nâng cao chất lượng quản trị", từ "phân cấp, phân quyền" sang "đảm bảo năng lực thực thi". Tại cuộc làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp ngày 2/6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh cải cách về tổ chức bộ máy lần này có ý nghĩa rất lớn, không chỉ là đối với hiện tại mà còn đối với tương lai phát triển của đất nước. Điều hướng tới không phải chỉ là một bộ máy ít đầu mối hơn mà là một bộ máy phải mạnh hơn, thông suốt hơn, trách nhiệm hơn, hiệu quả hơn và phục vụ nhân dân tốt hơn; không phải chỉ là sắp xếp tổ chức bộ máy mà đổi mới phương thức lãnh đạo, phương thức quản lý, phương thức điều hành, phương thức làm việc, phương thức tổ chức thực hiện; không phải chỉ là giải quyết yêu cầu trước mắt mà phải tạo nền tảng trong mô hình quản trị quốc gia hiện đại, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

RkJQdWJsaXNoZXIy MTYzNTY5OA==