Chồng dùng vũ lực ép vợ quan hệ tình dục: Khởi tố hiếp dâm là có căn cứ

(Kiến Thức) - Tội hiếp dâm không quy định chủ thể đặc biệt, không loại trừ trường hợp chủ thể là vợ, chồng. Bởi vậy, cứ đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực hành vi dân sự mà thực hiện hành vi như trên thì sẽ bị xử lý hình sự về tội hiếp dâm.

Vụ việc đối tượng Lý Văn Quang (35 tuổi, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn) bị Công an huyện Lộc Bình (tỉnh Lạng Sơn) khởi tố về hành vi Hiếp dâm vợ mình là chị N.T.V. (SN 1988, thường trú tại xã Đồng Bục, huyện Lộc Bình) đang thu hút sự quan tâm của dư luận.
Do mâu thuẫn gia đình, tháng 8/2019, chị V. viết đơn ly hôn gửi tòa án huyện và về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Để muốn vợ từ bỏ ý định ly hôn và quay về chung sống, Lý Văn Quang đã nhiều lần đến nhà vợ để níu kéo nhưng bất thành. Hồi 18h ngày 5/2/2020, Quang điều khiển xe mô tô đến gặp vợ, thấy chị V. ở nhà một mình, Quang đã dùng dao đe dọa và dùng vũ lực khống chế giao cấu trái ý muốn với chị V.
Ngay sau khi nhận được đơn trình báo của gia đình bị hại, Công an huyện Lộc Bình đã xác minh làm, ra quyết định khởi tố, bắt tạm giam Lý Văn Quang về tội hiếp dâm theo khoản 1, Điều 141 Bộ luật Hình sự.
Chong dung vu luc ep vo quan he tinh duc: Khoi to hiep dam la co can cu
 Đối tượng Lý Văn Quang tại cơ quan công an.
Tình tiết vụ án trên gây tranh cãi khi có một số ý kiến cho rằng, về mặt pháp lý, giữa 2 người vẫn đang là vợ chồng theo luật hôn nhân gia đình. Dù cho vợ bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống ly thân và đang nộp đơn ly hôn chồng tại Tòa nhưng chưa có Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật chấm dứt quan hệ vợ chồng.
Do đó, người chồng đòi hỏi nhưng vợ không đáp ứng nhu cầu tình dục và sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để giao cấu thì cũng không thể coi đó là hành vi hiếp dâm. Đây là hành vi phạm nghĩa vụ tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ/chồng theo Điều 21 Luật hôn nhân và gia đình “Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau”.
Trao đổi với PV Kiến Thức, luật sư Đặng Văn Cường, Đoàn Luật sư TP Hà Nội cho rằng, việc Công an huyện Lộc Bình (tỉnh Lạng Sơn) khởi tố Lý Văn Quang (35 tuổi, người địa phương) về hành vi Hiếp dâm, quy định tại Khoản 1, Điều 141 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.
Cụ thể, Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định, người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm...
Như vậy, pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành quy định chủ thể thực hiện hành vi hiếp dâm là "bất cứ ai", không phân biệt nam, nữ, giới tính, không phân biệt họ có mối quan hệ xã hội với nạn nhân như thế nào (kể cả quan hệ bố con, mẹ con, anh em, vợ chồng... đều không được loại trừ), miễn là có năng lực trách nhiệm hình sự (đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không mất khả năng nhận thức) mà thực hiện hành vi hiếp dâm thì sẽ bị xử lý hình sự theo Điều 141 Bộ luật hình sự.
Bộ luật hình sự có quy định về các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự như: phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết... nhưng không có điều luật nào quy định trường hợp vợ chồng giao cấu trái ý muốn (hiếp dâm) thì được loại trừ trách nhiệm hình sự nên nếu vợ hoặc chồng thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn, đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì sẽ xử lý hình sự theo quy định pháp luật.
Hành vi hiếp dâm theo quy định pháp luật là hành vi "dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân".
Tội danh này không quy định chủ thể đặc biệt, không loại trừ trường hợp chủ thể là vợ, chồng, bởi vậy cứ đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực hành vi dân sự mà thực hiện hành vi như trên thì sẽ bị xử lý hình sự về tội hiếp dâm.
Luật sư Cường cho rằng, tội hiếp dâm là một trong những tội danh trong nhóm tội bảo vệ danh dự, nhân phẩm con người. Hành vi hiếp dâm là hành vi nguy hiểm nhất trong nhóm hành vi xâm hại tình dục. Hậu quả của hành vi hiếp dâm rất ghê gớm có thể gây tổn hại nghiêm trọng tới tâm lý, sức khỏe, thậm chí tính mạng của nạn nhân. Hành vi này xâm phạm quyền tự do tình dục, quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của công dân, đây là biểu hiện cao nhất của hành vi xâm hại tình dục, bạo lực tình dục mà hầu hết các quốc gia đều quy định là tội phạm hình sự.
Từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến nay, pháp luật Việt Nam vẫn duy trì quan điểm là đấu tranh với tôi phạm xâm hại tình dục để bảo vệ nhân phẩm con người, đặc biệt là phụ nữ. Bởi vậy, chưa bao giờ pháp luật Việt Nam quy định loại trừ trách nhiệm hình sự khi vợ và chồng giao cấu trái ý muốn. Quy định về tự do tình dục, bảo vệ nhân phẩm của phụ nữ luôn được các văn bản pháp luật đề cao.
Nhiều người cho rằng đã là vợ chồng thì phải có nghĩa vụ quan hệ tình dục, phải phục vụ nhu cầu tình dục của nhau, phải sinh con... Tuy nhiên, suy nghĩ này là chủ quan, mang tính cá nhân và không đúng với quy định của pháp luật.
Theo quy định của luật hôn nhân và gia đình thì quan hệ vợ chồng được xác lập kể từ khi kết hôn hoặc từ khi được công nhận là vợ chồng. Quyền và nghĩa vụ được quy định tại luật hôn nhân và gia đình quy định là: Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan (Điều 17); Quyền, nghĩa vụ về nhân thân của vợ, chồng quy định tại Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan được tôn trọng và bảo vệ (Điều 18).
Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác (Điều 19).
Điều 21 Luật hôn nhân và gia đình quy định: Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau.
Mối quan hệ nhân thân và quan hệ về tài sản giữa vợ với chồng được quy định ở các văn bản pháp luật như Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật bình đẳng giới... nhưng không có điều luật nào quy định là vợ chồng phải có nghĩa vụ quan hệ tình dục với nhau, cũng không quy định là vợ chồng phải sinh con với nhau, phải phục tùng nhau...
Một nguyên tắc cơ bản xuyên suốt các quy định pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của nhau.
Bởi vậy, hành vi xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của nhau (trong đó có hành vi xâm hại tình dục) là hành vi phạm pháp luật, tùy thuộc vào tính chất mức độ của hành vi và tùy thuộc vào hậu quả xảy ra, mà hành vi vi phạm có thể bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Những hành vi xâm hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của các thành viên trong gia đình là hành vi "bạo hành", "Bạo lực gia đình".. và chế tài chủ yếu là chế tài hành chính, người vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP.
Tuy nhiên, hành vi bạo hành, bạo lực gia đình mà thỏa mãn dấu hiệu của các tội danh: Giết người, Cố ý gây thương tích, Hành hạ người khác, Làm nhục người khác, Hiếp dâm... thì sẽ bị xử lý hình sự chứ không còn là chế tài hành chính. Pháp luật Việt Nam bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người bằng các chế tài hành chính và hình sự chứ không chỉ có chế tài hành chính và không loại trừ chế tài hình sự trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình.
Chong dung vu luc ep vo quan he tinh duc: Khoi to hiep dam la co can cu-Hinh-2
 Luật sư Đặng Văn Cường.
Một nguyên tắc rất quan trọng trong mối quan hệ vợ chồng là quan hệ bình đẳng chứ không phải là quan hệ "mệnh lệnh phục tùng" như trong mối quan hệ hành chính.
Bởi vậy, quyền tự do, bình đẳng của phụ nữ luôn được pháp luật đề cao trong đó có quyền tự do tình dục. Hành vi xâm hại tình dục cấu thành tội danh nào (hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu....) thì xử lý về tội danh đó, bất kể mối quan hệ giữa nạn nhân và đối tượng gây án như thế nào.
Pháp luật Việt Nam quy định hôn nhân thực tế (những người chung sống như vợ chồng trước thời điểm 03/01/1987 thì không cần đăng ký kết hôn cũng có thể công nhận như vợ chồng nếu họ sống chung với nhau công khai, chung nhau kinh tế, có con chung... và không vi phạm điều kiện kết hôn).
Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam lại không quy định "Ly hôn thực tế". Nếu như kết hôn là xác lập quan hệ vợ chồng thì ly hôn là thủ tục chấm dứt quan hệ vợ chồng, thủ tục chấm dứt này chỉ có tòa án mới có thẩm quyền giải quyết.
Bởi vậy, khi "cơm không lành, canh không ngọt", vợ chồng không còn hạnh phúc, không còn sống chung với nhau, thậm chí đang làm thủ tục ly hôn, hoặc có những trường hợp hận thù, coi nhau như kẻ thù... nhưng về pháp lý "trên giấy" họ vẫn là "vợ chồng".
Thực tiễn cho thấy nhiều người đăng ký kết hôn xong, mâu thuẫn và chia tay nhau, đi sống với người khác có mấy mặt con nhưng không làm thủ tục ly hôn thì họ vẫn là vợ chồng "trên giấy". Thủ tục ly hôn không phải khi nào cũng dễ dàng, bởi nhiều nguyên nhân mà quá trình thực hiện thủ tục ly hôn có thể kéo dài hàng năm, thậm chí nhiều năm...
Khi đó những hành vi xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của nhau rất dễ xảy ra, bởi vậy, pháp luật càng phải nghiêm minh khi thực tế mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng mà một bên vẫn tiếp dụng nhân danh "vợ, chồng" để bạo hành, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của người khác.
Với tình trạng bạo lực gia đình có xu hướng gia tăng, khó kiểm soát thì việc áp dụng các chế tài hình sự để xử lý hành vi bạo lực gia đình đến mức trầm trọng, nguy hiểm cho xã hội về các tội danh như: Giết người, cố ý gây thương tích, làm nhục người khác, hành hạ người khác, hiếp dâm, cưỡng dâm... là cần thiết để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo sự tôn trọng, bình đẳng giữa vợ với chồng và ngược lại.
>>> Mời độc giả xem video Vợ ép chồng “quan hệ” bị khép tội hiếp dâm:

Nguồn: VTC 9.

Tâm Đức

>> xem thêm

Bình luận(0)