Nghiên cứu khoa học quy mô nhất khẳng định ‘gene đồng tính không tồn tại’

Đây là cuộc nghiên cứu khoa học quy mô nhất từ trước đến nay về xu hướng tính dục đồng giới của con người và gây ảnh hưởng mạnh đến phong trào LGBT (đồng tính, song tính và chuyển giới).

Ngay từ khi công bố dự án, nghiên cứu đầy tham vọng này của một nhóm nhà khoa học quốc tế đã vấp phải phản đối từ những nhà hoạt động nhân quyền do lo ngại kết quả đưa ra sẽ thúc đẩy nạn phân biệt đối xử và kỳ thị cộng đồng LGBT trong xã hội. Cuộc nghiên cứu sau đó vẫn tiếp tục nhằm giải đáp thắc mắc lâu nay về hành vi tình dục đồng giới của con người nhưng các nhà khoa học đã nghiêm túc tiếp thu lời khuyên và lựa chọn cẩn thận cách thức viết báo cáo nhằm tránh hệ quả tiêu cực có thể xảy ra.
Robbee Wedow - một thành viên của nhóm nghiên cứu đồng thời là thành viên của tổ chức LGBT Out @ Broad, được xem là cây cầu nối giữa hai bên.
“Tôi hy vọng khoa học có thể được sử dụng để giáo dục thêm cho mọi người về tính tự nhiên của hành vi tình dục đồng giới”, Martin Neale - nhà di truyền học tại Viện Broad của M.I.T. và Harvard và một trong những nhà nghiên cứu chính – nói với New York Times. “Nó được viết trong bộ gene của chúng ta. Đây là một phần của loài người và góp phần làm nên chúng ta”.
Cuộc nghiên cứu được tài trợ bởi Viện Y tế Quốc gia và các cơ quan khác. Những nhà nghiên cứu đã phân tích gene của gần 500.000 người lấy từ kho dữ liệu gene lớn nhất nước Anh: ngân hàng sinh học UK Biobank (nơi tiếp nhận gene của tình nguyện viên). Chưa hết, họ còn sử dụng gene của 70.000 khách hàng (đã chấp thuận) của công ty di truyền 23andMe.
Nghien cuu khoa hoc quy mo nhat khang dinh ‘gene dong tinh khong ton tai’
Ảnh minh họa.
Các cá nhân có gene được phân tích là những người đã trả lời “Có” cho câu hỏi “Bạn có từng quan hệ tình dục đồng giới hay không?”. Do đó, cuộc nghiên cứu này có nhiều hạn chế. Ví dụ như toàn bộ đều là người châu Âu da trắng, không bao gồm người chuyển giới hay liên giới tính (chính xác hơn là không rõ giới tính khi sinh ra) cũng như không xác định rõ xu hướng tính dục (đồng tính, song tính…).
Các chuyên gia trong ngành đồng ý cuộc nghiên cứu đã được thực hiện bởi các nhà khoa học hạng nhất. “Tôi cảm thấy bất ngờ khi lần đầu nhìn thấy nghiên cứu”, tiến sĩ Miller của Đại học Oxford nói. “Họ là những nhà di truyền học hàng đầu. Do đó, nếu ai đó có đủ tư cách để thực hiện một nghiên cứu nhạy cảm như vậy thì tôi mừng chính là họ!”.
Ngày thứ 5, Viện Broad đã thực hiện một điều chưa từng có tiền lệ. Đó chính là công bố bản báo cáo kèm theo những quan ngại của các nhà hoạt động nhân quyền nhằm tránh tình trạng truyền thông và công chúng hiểu sai mục đích của cuộc nghiên cứu.
Các nhà nghiên cứu tin rằng có hàng ngàn gen ảnh hưởng đến hành vi tình dục đồng giới, mỗi gen đóng một vai trò nhỏ. Nếu cộng tất cả các gene đó lại có thể ảnh hưởng khoảng 32% lên hành vi tình dục đồng giới của con người.
Mặc dù vậy, sử dụng một kỹ thuật gọi là liên kết toàn bộ gen, các nhà nghiên cứu ước tính rằng các biến thể di truyền phổ biến - sự khác biệt một chữ cái trong chuỗi DNA - chiếm từ 8% đến 25% lên hành vi tình dục đồng giới. Phần còn lại của 32% có thể liên quan hoặc không và họ cũng không thể khẳng định chính xác.
Hay nói rõ hơn, việc một người có hành vi tình dục đồng giới hoặc mang xu hướng tính dục đồng tính hay không là không thể xác định bằng phân tích gene hoặc có quá ít dữ liệu để có thể kết luận. Tuy nhiên, quan điểm “tồn tại một gene đồng tính duy nhất” là hoàn toàn sai.
Có một phát hiện khá nhạy cảm trong cuộc nghiên cứu. Đó chính là những người từng quan hệ tình dục đồng giới có mối tương quan di truyền với các vấn đề sức khỏe tâm thần như rối loạn trầm cảm hoặc tâm thần phân liệt đi kèm với những đặc điểm như tự tử và cô đơn.
Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh họ không đề xuất rằng hành vi tình dục đồng giới là nguyên nhân gây ra các căn bệnh này. Rất có thể, chúng là kết quả từ nạn phân biệt đối xử và kỳ thị. “Chúng tôi đặc biệt lo lắng rằng mọi người sẽ trình bày sai về những phát hiện của chúng tôi về sức khỏe tâm thần”, tiến sĩ Neale nói.
“Đó là một vấn đề lớn trong việc tìm kiếm tính di truyền của xu hướng tính dục - bối cảnh xã hội có thể là một phần lớn trong biểu hiện của đặc điểm này”, Jeremy Yoder - trợ lý giáo sư môn sinh học tại Đại học bang California và một người đồng tính – cho biết.
Tiến sĩ Neale cho biết những người trẻ tuổi cởi mở hơn những người lớn tuổi về trải nghiệm tình dục đồng giới, phản ánh sự chấp nhận của xã hội ngày càng tăng. Ông lưu ý rằng những người tham gia lớn tuổi đã trải qua thời thiếu niên và trưởng thành trong giai đoạn nước Anh vẫn còn hình sự hoá đồng tính luyến ái và nạn phân biệt đối xử diễn ra thường xuyên trong xã hội.
Theo Mai Thảo / Một Thế Giới

>> xem thêm

Bình luận(0)