Xuân Bính Ngọ 41 XUÂN CÙNG TRÍ THỨC VIỆT TOÀN CẦU tiêu biểu trong lĩnh vực học sâu. Các công trình của ông về seq2seq, doc2vec và học không giám sát đã trở thành nền tảng cho nhiều hệ thống xử lý ngôn ngữ tự nhiên, dịch máy và mô hình ngôn ngữ lớn đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Trong khoa học kỹ thuật và vật liệu, GS Nguyễn Xuân Hùng với các nghiên cứu về cơ học tính toán và mô phỏng số, cùng GS Nguyễn Đình Đức với các công trình về vật liệu tiên tiến và kết cấu composite, đã khẳng định vai trò của khoa học nền tảng trong phát triển hạ tầng và công nghiệp hiện đại. Tri thức Việt trong mạng lưới toàn cầu: Từ chuyển giao công nghệ đến đóng góp chính sách Sự hội nhập của khoa học Việt Nam không chỉ thể hiện qua công bố quốc tế, mà còn qua chuyển giao công nghệ và tham gia hoạch định chính sách. Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ, mỗi năm có khoảng 300–400 trí thức người Việt ở nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu, tư vấn và chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, tập trung vào các lĩnh vực chiến lược như trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, y sinh và chuyển đổi số. Trong lĩnh vực chính sách khoa học, GS Hồ Tú Bảo tham gia tư vấn cho Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, với các khuyến nghị về AI có trách nhiệm và phát triển hệ sinh thái nghiên cứu – đào tạo – ứng dụng. Ở mảng môi trường, GS Võ Quý là trường hợp tiêu biểu cho đóng góp chính sách dựa trên nền tảng khoa học. Các nghiên cứu của ông về sinh thái học, bảo tồn đa dạng sinh học và phục hồi môi trường sau chiến tranh đã được sử dụng làm cơ sở cho nhiều chương trình bảo tồn và hợp tác quốc tế. Trong chuyển giao công nghệ gắn với quản trị, TS Trịnh Quang Việt với các sáng chế và kinh nghiệm nghiên cứu tại Hoa Kỳ đã tham gia phát triển các giải Lịch sử hình thành tri thức Việt Nam là một dòng chảy bền bỉ, được tôi luyện qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đó không chỉ là sự tích lũy về kinh nghiệm sản xuất, mà còn là sự giao thoa uyển chuyển giữa bản sắc bản địa với các hệ tư tưởng lớn của nhân loại, tạo nên một hệ giá trị tri thức đặc sắc: thực tiễn, nhân văn và linh hoạt. Khởi nguồn của tri thức Việt nằm ở nền văn minh lúa nước sông Hồng. Ngay từ thời đại đồ đồng với đỉnh cao là văn hóa Đông Sơn, người Việt cổ đã sở hữu kho tàng tri thức đồ sộ về thủy lợi, nông nghiệp và luyện kim. Việc chế tạo trống đồng với kỹ thuật tinh xảo và những tính toán thiên văn sơ khai trên mặt trống là minh chứng cho trí tuệ vượt bậc của cha ông trong việc quan sát quy luật tự nhiên để phục vụ đời sống. Trải qua nghìn năm Bắc thuộc và thời kỳ phong kiến độc lập, tri thức Việt Nam bước vào giai đoạn tiếp biến mạnh mẽ. Sự du nhập của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo đã làm phong phú thêm đời sống tinh thần. Nho giáo định hình hệ thống giáo dục, thi cử và quản lý xã hội, đề cao đạo lý làm người và lòng trung quân ái quốc. Phật giáo mang đến tư duy triết học về nhân quả, lòng từ bi, thấm sâu vào lối sống bình dị của người dân. Đặc biệt, người Việt không tiếp nhận máy móc mà luôn “Việt hóa” các tư tưởng này. Chữ Nôm ra đời chính là một biểu tượng của sự tự cường về tri thức, khẳng định ý chí xây dựng một nền văn hóa riêng biệt dù vay mượn chất liệu từ chữ Hán. Từ thế kỷ XIX đến nay, dòng chảy tri thức Việt có bước ngoặt vĩ đại khi tiếp xúc với văn minh phương Tây. Sự chuyển đổi từ chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ đã tạo nên một cuộc cách mạng trong việc truyền bá tri thức, giúp việc học tập trở nên đại chúng hơn. Trong giai đoạn kháng chiến, “tri thức cứu quốc” trở thành kim chỉ nam, kết hợp giữa tinh hoa quân sự cổ truyền với học thuyết hiện đại. Ngày nay, trong kỷ nguyên số, tri thức Việt đang chuyển mình mạnh mẽ để hội nhập toàn cầu. Từ những bài học về lòng yêu nước và sự đoàn kết trong quá khứ, thế hệ trẻ Việt Nam đang tiếp tục bồi đắp kho tàng tri thức bằng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo nhưng vẫn giữ vững cái “gốc” văn hóa dân tộc. Lịch sử tri thức Việt Nam là hành trình đi từ chiếc lưỡi cày đồng đến những dòng code lập trình hiện đại. Sức mạnh của nó nằm ở khả năng thích ứng – học hỏi cái mới mà không đánh mất bản sắc, biến những giá trị ngoại lai thành vũ khí để bảo vệ và phát triển đất nước. TS Lê Viết Quốc. Ảnh: FULBRIGHT GS Võ Quý. Ảnh: VNU GS. Nguyễn Đình Đức cùng các sinh viên. Ảnh: NVCC PGS.TS Nguyễn Thế Hoàng. ẢNH: MAI LOAN pháp AI trong lĩnh vực luật, quản lý và y tế, đồng thời tư vấn về khung pháp lý cho ứng dụng công nghệ mới tại Việt Nam. Bên cạnh đó, các diễn đàn khoa học quốc tế có sự tham gia của trí thức Việt, như VinFuture Foundation, đã góp phần đưa khoa học Việt Nam vào mạng lưới tri thức toàn cầu, kết nối nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp. Tri thức Việt Nam đang bước qua một giai đoạn bản lề. Không còn là người quan sát từ xa, cũng chưa phải trung tâm quyền lực tri thức, nhưng đã trở thành một phần không thể thiếu của dòng chảy tri thức nhân loại. Trong thế giới đầy bất định, nơi khoa học đối mặt với các thách thức đạo đức, môi trường và xã hội chưa từng có, chính những nền tri thức từng trải qua đứt gãy như Việt Nam lại có khả năng đóng góp những góc nhìn cân bằng, nhân văn và thực tiễn. Tri thức Việt, vì thế, không chỉ là câu chuyện của thành tựu, mà là câu chuyện của sự kiên nhẫn, hội nhập và trách nhiệm với tương lai chung của con người. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TRI THỨC VIỆT – NHỮNG LỚP TRẦM TÍCH THẦM LẶNG
RkJQdWJsaXNoZXIy MTYzNTY5OA==